Kịch bản là vở kịch ở dạng văn bản: phần chữ do tác giả viết ra, gồm lời thoại của các nhân vật và những chỉ dẫn về hành động, cảnh trí, để đạo diễn và diễn viên dựa vào đó dựng thành vở diễn. Trong môn Ngữ văn, kịch bản còn được gọi là văn bản kịch. Ngoài sân khấu, người ta nói kịch bản phim, kịch bản chương trình, và cả “kịch bản” theo nghĩa phương án dự tính trước.
| Nghĩa ngắn | Vở kịch được viết thành văn bản, làm cơ sở cho việc dàn dựng, biểu diễn |
| Gốc từ | Hán Việt 劇本: kịch (trò diễn, vở diễn) + bản (bản viết) |
| Thuộc | Loại kịch (bên cạnh tự sự và trữ tình) |
| Dấu hiệu nhận biết | Tên nhân vật đứng đầu mỗi lượt lời; chỉ dẫn sân khấu in nghiêng trong ngoặc; chia hồi, cảnh, lớp |

Kịch bản: vở kịch nằm trên trang giấy
Từ điển tiếng Việt giảng ngắn gọn: kịch bản là vở kịch ở dạng văn bản, kèm những ví dụ như “viết kịch bản”, “thiếu kịch bản hay”. Wiktionary cũng ghi đúng ý ấy và cho biết từ này mượn từ chữ Hán 劇本. Chữ bản ở đây giống trong văn bản, bản thảo: thứ được viết ra, có thể cầm lên đọc.
Điều làm kịch bản khác các văn bản văn học khác là nó sống hai đời. Đời thứ nhất là trên trang sách, học sinh đọc như đọc một tác phẩm. Đời thứ hai là trên sân khấu, khi chữ được “dịch” thành giọng nói, động tác, ánh sáng, âm nhạc. Một kịch bản hay phải đọc được và diễn được. Vì không có người kể chuyện đứng giữa, mọi thứ người xem biết về nhân vật đều phải hiện ra qua lời nhân vật nói và việc nhân vật làm.
Từ nghĩa gốc ấy, chữ kịch bản đi rất xa. Báo chí nói “kịch bản tăng trưởng”, “kịch bản biến đổi khí hậu”, “kịch bản xấu nhất” để chỉ một phương án diễn biến được tính trước. Nghĩa này dùng nhiều ngoài đời, nhưng khi học Ngữ văn, kịch bản luôn được hiểu theo nghĩa văn bản của vở kịch.
Ba thứ phải có trong một kịch bản
Mở bất kì đoạn trích kịch nào trong SGK cũng sẽ thấy ba thành phần này.
- Lời thoại. Tên nhân vật viết trước, lời nói theo sau. Lời thoại có ba dạng: đối thoại (hai nhân vật trở lên nói qua nói lại), độc thoại (nhân vật nói một mình, thường để bộc lộ giằng xé bên trong) và bàng thoại (nhân vật nói riêng với khán giả, các nhân vật khác trên sân khấu coi như không nghe thấy).
- Chỉ dẫn sân khấu. Những câu in nghiêng, thường đặt trong ngoặc đơn, cho biết nhân vật làm gì, nói với giọng ra sao, ai ra ai vào, sân khấu bày biện thế nào. Diễn viên không nói những câu này; đó là lời tác giả dặn người dựng vở.
- Xung đột và cách chia đoạn. Kịch bản được dựng quanh một mâu thuẫn, và được chia thành hồi (hoặc màn), cảnh, lớp. Lớp kịch thường đổi khi có nhân vật ra hoặc vào.
Nhiều kịch bản còn mở đầu bằng hai mục nhỏ: danh sách nhân vật và phần tả cảnh trí. Chỉ cần thấy những dấu hiệu đó là biết mình đang đọc một văn bản kịch, chứ không phải truyện có nhiều đối thoại.
Các loại kịch bản thường gặp
Xét theo nơi dùng, có thể chia kịch bản thành mấy nhóm:
- Kịch bản sân khấu: cho kịch nói, chèo, tuồng, cải lương. Kịch bản chèo, tuồng có thêm những làn điệu, câu hát, lối nói riêng của thể loại.
- Kịch bản văn học (kịch bản phim): cho điện ảnh, truyền hình. Từ bản này, đạo diễn làm tiếp kịch bản phân cảnh, ghi từng cảnh quay, góc máy, thời lượng.
- Kịch bản chuyển thể: viết lại một truyện, một tiểu thuyết thành vở diễn. Chuyên đề Ngữ văn 10 (Chân trời sáng tạo) cho học sinh tự chuyển một truyện thành kịch bản sân khấu và tập diễn.
- Kịch bản chương trình, sự kiện: lời dẫn của MC, thứ tự tiết mục, thời gian từng phần. Loại này không phải tác phẩm văn học nhưng mượn cách tổ chức của kịch bản.
Nếu xét theo nội dung và cảm hứng, kịch bản sân khấu lại chia thành bi kịch, hài kịch và loại kịch nằm giữa bi và hài.
Đọc kịch bản qua ba văn bản trong sách
Ở Vương quốc Tương Lai (Tiếng Việt 4) là trích đoạn từ vở Con chim xanh của nhà viết kịch Bỉ Mát-téc-lích. Học sinh lớp 4 đã gặp đủ “bộ khung” của kịch bản: mục Cảnh trí tả gian phòng, mục Nhân vật liệt kê Tin-tin, Mi-tin và các em bé, rồi từng lượt lời có tên người nói đứng trước. Cả câu chuyện đi tới nhờ đối thoại, không có câu kể nào. Phần gợi ý trả lời có ở bài đọc hiểu Ở Vương quốc Tương Lai lớp 4.
Rô-mê-ô và Giu-li-ét (Sếch-xpia) cho thấy sức mạnh của độc thoại. Trong cảnh khu vườn nhà Ca-piu-lét, Giu-li-ét đứng bên cửa sổ thổ lộ tình cảm một mình, không biết Rô-mê-ô đang nghe ở dưới. Nhờ lối viết ấy, người xem biết hết điều thầm kín mà nhân vật chưa dám nói thẳng với nhau. Câu hỏi đọc hiểu đoạn này được giải trong bài soạn trích đoạn Tình yêu và thù hận.
Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) là ví dụ rõ nhất về chỉ dẫn sân khấu. Những dòng in nghiêng cho biết lúc nào hồn tách khỏi xác, hồn hiện ra trong dáng ông Trương Ba thật, còn xác anh hàng thịt vẫn ngồi trên chõng. Không có chỉ dẫn này thì đạo diễn không biết dựng cuộc cãi vã giữa Hồn và Xác ra sao. Các lớp kịch được tóm lại trong phần soạn Hồn Trương Ba lớp 12.
Kịch bản, truyện và vở diễn khác nhau ở đâu?
| Kịch bản | Truyện | Vở diễn | |
|---|---|---|---|
| Dạng tồn tại | Văn bản viết | Văn bản viết | Màn trình diễn trên sân khấu |
| Ai dẫn dắt | Nhân vật tự nói, tự hành động | Người kể chuyện | Diễn viên, đạo diễn |
| Miêu tả, tâm trạng | Gói trong chỉ dẫn sân khấu và lời thoại | Kể, tả trực tiếp | Thể hiện bằng diễn xuất, ánh sáng, âm thanh |
| Đơn vị chia đoạn | Hồi, cảnh, lớp | Chương, đoạn | Màn diễn, lần công diễn |
Một kịch bản có thể sinh ra nhiều vở diễn khác nhau, tùy đoàn kịch và đạo diễn. Còn truyện muốn lên sân khấu thì phải qua một bước chuyển thể thành kịch bản.
Luyện tập nhận diện kịch bản
Câu 1: Dấu hiệu hình thức nào cho biết một đoạn văn bản là kịch bản chứ không phải truyện?
Đáp án: Mỗi lượt lời có tên nhân vật đứng trước; có chỉ dẫn sân khấu in nghiêng trong ngoặc; văn bản chia theo hồi, cảnh, lớp; không có người kể chuyện. Nhiều kịch bản còn có mục nhân vật và cảnh trí ở đầu.
Câu 2: Câu “(Đứng dậy, chậm rãi bước ra cửa, không quay lại.)” thuộc thành phần nào của kịch bản và dùng để làm gì?
Đáp án: Đó là chỉ dẫn sân khấu. Câu này không được nói thành lời mà hướng dẫn diễn viên hành động, đồng thời gợi tâm trạng nhân vật: dứt khoát, có thể đang giận hoặc buồn.
Câu 3: Phân biệt độc thoại và bàng thoại.
Đáp án: Độc thoại là nhân vật tự nói với mình, bộc lộ suy nghĩ bên trong. Bàng thoại là nhân vật nói riêng với khán giả trong khi các nhân vật khác vẫn ở trên sân khấu nhưng được coi như không nghe thấy.
Câu 4: Trong câu “Ban tổ chức đã chuẩn bị ba kịch bản cho trận chung kết”, từ kịch bản được dùng theo nghĩa nào?
Đáp án: Nghĩa mở rộng: các phương án diễn biến được tính trước (ví dụ: trời mưa thì sao, hòa thì đá luân lưu ra sao). Ở đây không có vở kịch nào cả.
Câu 5: Chuyển hai câu kể sau thành một đoạn kịch bản ngắn: “Lan hỏi mẹ đã về chưa. Em trai lắc đầu, mắt vẫn dán vào màn hình.”
Đáp án tham khảo:
LAN: – Mẹ về chưa em?
EM TRAI: (lắc đầu, mắt không rời màn hình) – Chưa.
Lời hỏi của Lan chuyển thành đối thoại; động tác của em trai chuyển thành chỉ dẫn sân khấu. Câu “Chưa” được thêm vào để lượt lời có đối đáp, vì trên sân khấu cái lắc đầu vẫn có thể đi kèm một tiếng đáp ngắn.
Những điều về kịch bản học sinh hay cần
Kịch bản tiếng Anh là gì?
Kịch bản sân khấu là script hoặc play script; kịch bản phim là screenplay. Khi nói về phương án dự tính (“kịch bản xấu nhất”), tiếng Anh dùng scenario.
Người viết kịch bản gọi là gì?
Người viết kịch bản sân khấu thường được gọi là nhà viết kịch hay nhà soạn kịch; người viết kịch bản phim gọi là biên kịch. Lưu Quang Vũ, Nguyễn Huy Tưởng là những nhà viết kịch học sinh gặp trong SGK.
Kịch bản và văn bản kịch có phải một không?
Trong SGK Ngữ văn, hai cách gọi gần như dùng thay nhau, đều chỉ phần văn bản của vở kịch. “Văn bản kịch” nhấn vào việc đọc hiểu như một tác phẩm, “kịch bản” nhấn vào chức năng làm nền cho việc dàn dựng.
Kịch bản phim là gì?
Là văn bản kể lại bộ phim bằng các cảnh, có lời thoại và mô tả hành động, bối cảnh, để đoàn làm phim dựa vào đó mà quay. Kịch bản phim thường chia theo cảnh quay chứ không chia hồi, lớp như kịch sân khấu.