Thành phần tình thái là một thành phần biệt lập của câu, cho biết người nói nhìn nhận sự việc mình đang nói ra sao: tin chắc tới mức nào, ý kiến là của ai, thái độ với người nghe ra sao. Những từ ngữ như chắc chắn, có lẽ, hình như, theo tôi khi đứng tách khỏi nòng cốt câu đều là thành phần tình thái. Bỏ chúng đi, sự việc trong câu vẫn nguyên vẹn.
| Khái niệm | Thành phần biệt lập thể hiện cách nhìn, mức tin cậy, thái độ của người nói với sự việc |
| Nghĩa của chữ | Tình thái (情態): tình trạng và thái độ, ở đây là thái độ của người nói |
| Thuộc | Ngữ pháp câu, nhóm thành phần biệt lập (cùng cảm thán, gọi – đáp, phụ chú) |
| Dấu hiệu nhận biết | Không nằm trong chủ ngữ, vị ngữ; bỏ đi sự việc không đổi, chỉ mất độ chắc chắn hay thái độ |
| Học ở | Ngữ văn 9 chương trình cũ; chương trình mới học trong phần thành phần biệt lập ở THCS |

Thành phần tình thái và hai chữ “có lẽ”
So hai câu: Chiều nay mẹ về. và Có lẽ chiều nay mẹ về. Sự việc giống hệt: mẹ về, vào chiều nay. Nhưng người nói câu thứ nhất dám hứa với em mình; người nói câu thứ hai thì không. Hai chữ có lẽ không thêm thông tin gì về chuyện mẹ về, chúng chỉ cho biết người nói đang đoán. Đó chính là việc của thành phần tình thái.
Chữ tình thái gốc Hán Việt, ghép từ tình (tình trạng, tình cảm) và thái (thái độ, dáng vẻ). Ngôn ngữ học gọi hiện tượng này là tình thái của câu: ngoài phần kể sự việc, câu nào cũng ít nhiều mang dấu vết của người nói. Lên lớp 11 chương trình cũ, học sinh còn gặp lại ý này dưới tên “nghĩa tình thái”, đặt cạnh “nghĩa sự việc”.
Sách Ngữ văn 9 chương trình cũ xếp thành phần tình thái là loại đầu tiên trong bài thành phần biệt lập. Gọi là biệt lập vì nó đứng ngoài khung chủ ngữ – vị ngữ. Bức tranh chung của cả bốn loại có ở bài bốn thành phần đứng ngoài nòng cốt câu.
Muốn đổi có lẽ sang hình như, dường như hay chắc là mà không lệch mức tin, xem bảng so sánh ở đồng nghĩa, trái nghĩa với có lẽ.
Thang chắc chắn và ba nhóm tình thái
Nhóm thứ nhất: mức tin cậy. Đây là nhóm hay ra đề nhất. Các từ xếp được thành một thang, từ ít chắc tới rất chắc:
| Mức | Từ ngữ | Ví dụ |
|---|---|---|
| Phỏng đoán, còn mơ hồ | dường như, hình như, có vẻ như | Hình như lớp bên đã tan học. |
| Đoán có cơ sở | có lẽ, chắc là | Chắc là nó ngủ quên rồi. |
| Gần như khẳng định | chắc hẳn, chắc chắn | Chắc chắn đội mình sẽ vào chung kết. |
Bài tập trong sách cũ yêu cầu xếp đúng thứ tự: dường như, hình như, có vẻ như, có lẽ, chắc là, chắc hẳn, chắc chắn. Không cần học thuộc như bảng cửu chương; chỉ cần tự hỏi: nếu điều này sai thì người nói có “mất mặt” không? Càng mất mặt, từ càng đứng cao trên thang.
Nhóm thứ hai: ý kiến của ai. Theo tôi, ý tôi, theo anh, theo các nhà khoa học, theo dự báo… cho biết nhận định thuộc về ai, người nói nhận hay không nhận trách nhiệm với nó.
Nhóm thứ ba: thái độ với người nghe. Các tiểu từ cuối câu như à, ạ, nhé, nhỉ, hả, đấy cho thấy quan hệ giữa hai người: Con chào cô ạ lễ phép, Đi nhé thân mật. Ở lớp 8 các em học chúng dưới tên tình thái từ, nên nhiều tài liệu chỉ coi hai nhóm đầu là thành phần tình thái đúng nghĩa.
Có thể còn một nghĩa nữa ngoài phỏng đoán là có khả năng làm; hai nhóm từ thay theo từng nghĩa nằm ở đồng nghĩa, trái nghĩa với có thể.
Tình thái trong Kiều ở lầu Ngưng Bích và Chiếc lược ngà
“Có khi” trong nỗi nhớ cha mẹ của Thúy Kiều
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
Bị giam ở lầu Ngưng Bích, Kiều nghĩ đến cha mẹ già. Hai chữ có khi ở đây nghĩa như có lẽ: nàng không thể biết chắc cây tử ở quê đã lớn đến đâu, chỉ đoán. Thơ không có dấu phẩy tách riêng, nhưng xét chức năng thì đây là yếu tố tình thái. Chính sự phỏng đoán làm câu thơ đau: thời gian trôi mà nàng chẳng được tận mắt thấy cha mẹ già đi. Nếu viết “Gốc tử nay đã vừa người ôm” thì thành câu kể, mất hẳn nỗi day dứt. Đoạn trích được phân tích kĩ ở bài hoàn cảnh và bố cục đoạn trích lầu Ngưng Bích.
“Chắc” và “có lẽ” bên cạnh anh Sáu
Sách Ngữ văn 9 cũ mở bài học bằng hai câu trích Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. Ở câu thứ nhất, người kể dùng chữ chắc để đoán anh Sáu đang hình dung cảnh con chạy ra ôm mình. Ở câu thứ hai, chữ có lẽ mở ra một phỏng đoán về lí do anh chỉ biết cười khi bé Thu không chịu nhận cha. Người kể chắc chắn về niềm mong của người cha hơn là về nỗi khổ không nói ra của anh, và hai từ tình thái ghi lại đúng khoảng cách ấy. Truyện và câu hỏi đọc hiểu có trong bài soạn Chiếc lược ngà sách Cánh diều.
Tình thái, tình thái từ và cảm thán đặt cạnh nhau
| Tiêu chí | Thành phần tình thái | Tình thái từ | Thành phần cảm thán |
|---|---|---|---|
| Là gì | Thành phần biệt lập của câu | Một từ loại (hư từ) | Thành phần biệt lập của câu |
| Thể hiện | Mức tin cậy, nguồn ý kiến | Mục đích nói (hỏi, cầu khiến, cảm thán) và sắc thái | Cảm xúc: vui, buồn, tiếc, ngạc nhiên |
| Hay đứng | Đầu câu hoặc sau chủ ngữ | Cuối câu | Đầu câu, có khi tách thành câu riêng |
| Ví dụ | Có lẽ trời sắp mưa. | Trời sắp mưa à? | Trời ơi, mưa to quá! |
Tình thái từ được giải thích riêng ở bài các nhóm tình thái từ ở cuối câu. Còn giữa tình thái và cảm thán, cách phân nhanh là hỏi: từ này cho biết người nói nghĩ gì về sự việc, hay cảm thấy gì? Nghĩ, đánh giá là tình thái; cảm thấy là cảm thán.
Ba phép thử để nhận ra tình thái
- Bỏ đi xem sự việc còn không. Câu Theo tôi, bài này dễ bỏ “theo tôi” vẫn còn “bài này dễ”. Sự việc còn nguyên thì từ vừa bỏ là thành phần biệt lập.
- Hỏi xem nó trả lời câu hỏi nào. Thành phần tình thái trả lời “người nói chắc đến đâu?” hoặc “ý của ai?”. Nếu nó trả lời “khi nào, ở đâu, vì sao” thì đó là trạng ngữ.
- Xem từ đó có làm vị ngữ không. Cùng một chữ chắc: trong Cái ghế này rất chắc, nó là tính từ làm vị ngữ, nói về độ vững của ghế. Trong Chắc nó quên rồi, nó mới là tình thái.
Dấu phẩy chỉ là gợi ý, không phải điều kiện: Có lẽ trời sắp mưa không có dấu phẩy mà “có lẽ” vẫn là tình thái.
Luyện nhận diện thành phần tình thái
Câu 1: Tìm thành phần tình thái trong câu: “Hình như đêm qua có mưa, sân vẫn còn ướt.”
Đáp án: “Hình như”. Người nói không trực tiếp thấy mưa mà suy ra từ cái sân ướt, nên dùng từ chỉ mức tin cậy thấp.
Câu 2: Câu nào có thành phần tình thái? a) Bạn ấy chắc chắn về đáp án của mình. b) Chắc chắn bạn ấy làm đúng.
Đáp án: Câu b. Ở câu a, “chắc chắn” là tính từ làm vị ngữ, nói về trạng thái của bạn ấy. Ở câu b, nó cho biết người nói tin đến đâu, đứng ngoài nòng cốt “bạn ấy làm đúng”.
Câu 3: Thay “chắc chắn” trong câu “Chắc chắn ngày mai lớp mình được nghỉ” bằng “hình như”. Nghĩa câu thay đổi thế nào?
Đáp án: Sự việc không đổi (lớp được nghỉ ngày mai), nhưng người nói từ chỗ khẳng định chuyển sang phỏng đoán. Người nghe sẽ không dám tin hẳn vào thông tin.
Câu 4: Viết một câu có thành phần tình thái thể hiện ý kiến của người khác.
Đáp án tham khảo: “Theo cô chủ nhiệm, lớp mình cần dành thêm thời gian ôn phần nghị luận.” Cụm “theo cô chủ nhiệm” cho biết nhận định ấy là của cô, không phải của người nói.
Thành phần tình thái: vị trí, tác dụng và cách gọi tên
Thành phần tình thái là gì lớp 9?
Theo sách Ngữ văn 9 chương trình cũ, đó là thành phần biệt lập dùng để thể hiện cách nhìn của người nói về sự việc nêu trong câu. Ví dụ quen thuộc là các từ chắc chắn, có lẽ, hình như.
Thành phần tình thái có tác dụng gì?
Nó giúp người nói nói đúng mức: điều chắc thì khẳng định, điều chưa chắc thì để ngỏ. Trong bài văn, dùng tình thái hợp lí làm lập luận chừng mực hơn, tránh khẳng định quá đà.
Thành phần tình thái đứng ở đâu trong câu?
Thường đứng đầu câu hoặc ngay sau chủ ngữ (Nó chắc đã về). Nhóm tiểu từ chỉ thái độ với người nghe thì đứng cuối câu.
“Theo tôi” có phải thành phần tình thái không?
Có. “Theo tôi” cho biết ý kiến trong câu là của người nói, thuộc nhóm tình thái chỉ nguồn ý kiến. Cần phân biệt với “theo lời cô dặn”, cụm này nêu căn cứ của hành động nên là trạng ngữ.