Sáng tạo cùng tác giả là thách thức thứ hai của Bài 10 Cuốn sách tôi yêu trong Ngữ văn 6 Kết nối tri thức (tập hai, trang 103). Đề không bắt viết một bài văn theo khuôn: em chọn một cuốn sách mình thích rồi làm ra sản phẩm mới từ nó, có thể là bài thơ, câu chuyện viết tiếp, bức tranh, truyện tranh hay một trang thư gửi nhân vật. Dưới đây là yêu cầu của sách giáo khoa, các bước làm, 10 sản phẩm mẫu thuộc mười dạng khác nhau, mỗi sản phẩm có đoạn ngắn người làm kể vì sao làm như vậy, và gợi ý giới thiệu sản phẩm trong ngày hội với sách. Tên người làm và các việc xảy ra quanh sản phẩm đều là giả định.

Yêu cầu của bài tập sáng tạo cùng tác giả
Sách giáo khoa gợi mấy hướng: làm thơ, viết truyện theo ý mới, vẽ một chi tiết hay một nhân vật đáng nhớ, hoặc vẽ một chuỗi tranh minh họa các sự việc (tức là làm truyện tranh). Sản phẩm sau đó được mang ra phần Về đích: Ngày hội với sách, nơi cá nhân, nhóm hoặc cả lớp trưng bày pô-xtơ, tranh, mô hình ở lớp học hay thư viện và giới thiệu với các bạn. Vì vậy một sản phẩm đạt yêu cầu phải vừa có chất sáng tạo riêng, vừa cho người xem nhận ra nó sinh ra từ cuốn sách nào.
| Tiêu chí | Sản phẩm đạt khi |
|---|---|
| Gắn với cuốn sách | Nêu rõ tên sách, tác giả; giữ đúng tên nhân vật, tính cách và những sự việc chính của bản gốc. Phần thêm vào không làm nhân vật đổi tính đột ngột. |
| Có phần của riêng em | Có ít nhất một điều bản gốc chưa có: một đoạn tiếp theo, một kết thúc khác, một góc nhìn của nhân vật phụ, một hình ảnh em tự chọn để vẽ. |
| Đúng đặc điểm của dạng sản phẩm | Thơ gieo vần, ngắt nhịp đúng thể em chọn; truyện có sự việc, lời kể, lời thoại; kịch bản có tên nhân vật, lời thoại và chỉ dẫn; tranh có bố cục rõ, màu sắc hợp không khí truyện; thư có người gửi, người nhận, lời chào, lời chúc. |
| Lời giới thiệu hoặc lời chia sẻ | Vài câu cho biết em lấy cảm hứng từ chi tiết nào, đã chọn cách làm gì và vì sao. Với tranh, truyện tranh, bìa sách, đây là phần chữ bắt buộc phải có. |
| Trình bày | Sạch, dễ đọc khi treo lên bảng; có tên sản phẩm, tên người làm; chữ không chen kín tranh. |
| Dạng sản phẩm | Cần giữ từ bản gốc | Chỗ em được tự do |
|---|---|---|
| Viết tiếp, đổi kết thúc | Nhân vật, hoàn cảnh, giọng kể | Sự việc mới sau trang cuối, hoặc từ một điểm rẽ trong truyện |
| Nhật kí, thư của nhân vật | Những gì nhân vật đã trải qua trong văn bản | Suy nghĩ thầm kín, những ngày trước và sau câu chuyện |
| Thơ | Hình ảnh, cảm xúc chính của văn bản | Thể thơ, cách sắp hình ảnh, điều em muốn nhấn |
| Kịch bản, truyện tranh | Trình tự sự việc chính | Lời thoại, cách chia cảnh, chi tiết hài hoặc chi tiết nhỏ |
| Tranh, bìa sách | Không gian, màu sắc, đồ vật mà tác giả tả | Góc nhìn, bố cục, chọn khoảnh khắc nào để vẽ |
Dàn ý chung khi làm một sản phẩm sáng tạo từ cuốn sách
1. Mở bài – chọn sách và chọn điểm bắt đầu
– Chọn cuốn sách hoặc văn bản em thật sự nhớ, đọc lại đoạn em thích nhất.
– Gạch dưới một chi tiết làm em day dứt, bật cười hoặc muốn hỏi tiếp: cái áo bông cũ, que diêm cuối cùng, tiếng chân hoàng tử bé…
– Đặt câu hỏi từ chi tiết ấy: chuyện gì xảy ra sau đó? nếu khác đi thì sao? nhân vật nghĩ gì mà sách không kể?
– Chọn dạng sản phẩm hợp với câu hỏi: câu hỏi về sự việc thì viết tiếp hoặc vẽ truyện tranh; câu hỏi về cảm xúc thì làm thơ, viết nhật kí, viết thư; câu hỏi về cảnh vật thì vẽ tranh.
2. Thân bài – làm sản phẩm
– Lập phác thảo trước: truyện thì ghi 3–5 sự việc, thơ thì ghi vài hình ảnh và vần định dùng, tranh thì vẽ khung chì chia mảng.
– Làm bản nháp đầu, đối chiếu lại với sách: tên riêng, đồ vật, tính cách nhân vật có đúng không.
– Thêm phần của riêng em ở một hai chỗ, không cần sửa cả câu chuyện.
– Đặt tên cho sản phẩm.
3. Kết bài – lời giới thiệu, lời chia sẻ
– Ghi tên sách, tác giả, chi tiết đã gợi ý tưởng.
– Nói ngắn gọn em đã chọn cách làm gì, đã sửa chỗ nào, chỗ nào em thích nhất.
– Với tranh và truyện tranh: chỉ cho người xem nên nhìn vào đâu trước.
Dàn ý chi tiết cho dạng viết tiếp truyện (ví dụ Gió lạnh đầu mùa)
– Thời điểm: một mùa đông sau, gió bấc lại về như ở đầu truyện gốc.
– Sự việc 1: nhà Sơn lại lấy áo ấm ra; Sơn nhớ tới chuyện năm ngoái.
– Sự việc 2: gặp lại Hiên; cái áo mẹ Hiên may năm trước giờ đã thế nào.
– Sự việc 3: một việc tốt mới, lần này có cả nhân vật từng định đi mách.
– Kết: một hình ảnh ấm lên giữa trời lạnh; sau đó là đoạn người viết chia sẻ.
Kể chuyện sáng tạo: viết tiếp, đổi kết thúc, nhật kí và thư
Mẫu 1: Viết tiếp truyện Gió lạnh đầu mùa – Mùa đông năm sau
Truyện viết tiếp Gió lạnh đầu mùa (Thạch Lam), lấy thời điểm một năm sau.
Năm ấy gió bấc về sớm hơn. Mới chiều qua trời còn oi, thế mà sáng ra cánh cửa sổ đã kêu lạch cạch, mấy tàu lá chuối sau nhà rách tua thêm một ít. Sơn nằm trong chăn nghe tiếng mẹ mở hòm, tiếng vú già xuýt xoa ngoài hiên, biết ngay mùa rét đã đến.
Mẹ lại sai chị Lan bê thúng áo cũ ra. Sơn được mặc cái áo dạ năm ngoái, giờ tay áo đã ngắn tới cổ tay, mẹ vừa kéo vừa cười bảo con trai lớn nhanh quá. Đến lượt lục tới đáy thúng thì cả nhà cùng lặng đi một lúc, vì chỗ ấy năm trước là chiếc áo bông của bé Duyên. Giờ nó không còn nằm đó nữa. Sơn liếc sang chị Lan, chị cũng đang nhìn em, cả hai không nói gì nhưng đều nghĩ tới một người.
Ăn sáng xong, hai chị em ra chợ. Gió thổi tạt ngang làm mắt Sơn cay xè. Đám trẻ nghèo vẫn tụ ở cuối chợ như mọi năm, có đứa chạy nhảy cho đỡ lạnh, có đứa ngồi bó gối trên đống rơm cạnh hàng bánh đúc. Sơn nhìn quanh tìm Hiên. Cô bé đứng ở cột quán quen, nhưng hôm nay không co ro nữa. Hiên mặc cái áo vải nâu mẹ may bằng mấy hào vay của mẹ Sơn năm ngoái. Áo đã bạc màu ở vai, hai vạt áo hếch lên vì Hiên cao hơn, khuy cài lệch một nấc mà trông vẫn ấm.
– Áo của Hiên đây này – Hiên kéo vạt áo khoe, rồi ngượng nghịu nói nhỏ. – Mẹ tớ bảo tết này đi gánh thuê đủ tiền thì sang trả nhà Sơn.
Sơn đỏ mặt, chẳng biết đáp thế nào. Chị Lan đưa tay sửa lại hàng khuy cho bạn, cài lại từ đầu cho thẳng.
Bỗng có tiếng chân chạy huỳnh huỵch phía sau. Thằng Sinh, cậu em họ năm ngoái đã định đi mách, ôm khư khư một bọc giấy báo. Nó thở hổn hển, mặt đỏ gay vì gió:
– Áo len của em đấy, mẹ em bảo em mặc không vừa nữa. Em chạy theo anh chị ra đây.
Ba đứa nhìn nhau rồi cùng nhìn sang đám trẻ cuối chợ. Không ai bảo ai, Lan mở bọc giấy. Chiếc áo len xanh được trao cho thằng bé bé nhất, đứa vẫn đứng kiễng chân hơ tay trên ổ rơm. Nó mặc vào, áo dài phủ qua đầu gối như cái váy, cả bọn phá lên cười, chính nó cũng cười. Sinh gãi đầu, giọng lí nhí như muốn chữa lại chuyện cũ:
– Lần này em không mách đâu. Em tự về nói với mẹ em.
Chiều hôm ấy, gió vẫn rít qua mái phố, nhưng lúc về, Sơn thấy hai bàn tay mình không còn lạnh. Đi ngang cột quán, cậu ngoảnh lại. Cái áo nâu của Hiên vẫn đứng đó giữa đám trẻ, như một đốm lửa nhỏ không ai thổi tắt được.
Người viết chia sẻ: Đọc xong truyện, em cứ tò mò không biết năm sau Hiên có áo mới không, vì mẹ Sơn chỉ cho vay tiền chứ truyện chưa kể Hiên đã mặc áo ấy. Em giữ nguyên cách Thạch Lam mở truyện bằng gió và cảnh lấy áo ấm, để người đọc nhận ra ngay. Phần em thêm là cậu em họ, em đặt tên là Sinh: trong truyện gốc cậu không có tên, chỉ được nhắc qua lời vú già, em muốn cho nó một cơ hội làm việc tốt. Em cũng cố viết nhẹ nhàng, ít than thở, vì truyện của Thạch Lam buồn mà rất ấm.
Mẫu 2: Đổi kết thúc Cô bé bán diêm – Ngọn đèn ở góc phố
Kết thúc khác cho truyện Cô bé bán diêm (An-đéc-xen), bắt đầu từ lúc em đốt nốt cả bao diêm cho bà khỏi biến mất.
Em bé đánh nốt cả nắm diêm trong tay. Lửa bừng lên, sáng hơn ban ngày, và bà em hiện ra cao lớn, hiền hậu như chưa bao giờ ốm đau. Bà cúi xuống, nhưng thay vì bế em lên, bà áp hai bàn tay ấm lên má em.
– Chưa đến lúc đâu, cháu ạ. Cháu còn phải ở lại, nhìn thấy mùa xuân thay bà.
Ánh lửa tắt. Đêm lại đen và gió lại cắt da. Nhưng ở đầu phố bên kia, có một người vừa dừng chân. Đó là bác già đi thắp đèn đường, vai vác cái sào dài, chiếc túi dầu đeo lủng lẳng bên hông. Bác đi qua phố này mỗi tối đã hai mươi năm, chưa thấy góc tường nào sáng như vậy. Tưởng có đám cháy, bác vội chạy lại, và thấy một em bé đầu trần ngồi co giữa đám que diêm cháy dở, môi tím ngắt mà miệng vẫn còn như cười.
Bác cởi tấm áo khoác đã sờn, bọc lấy em, rồi bế em đi qua ba dãy phố, về căn phòng nhỏ dưới chân cầu thang của một ngôi nhà cũ. Vợ bác đang ngồi vá áo bên bếp than. Bà không hỏi han gì nhiều, chỉ nhóm lửa to lên, đặt nồi nước lên bếp, lấy chiếc chăn len duy nhất trong nhà quấn quanh em.
Gần sáng, em bé mở mắt. Em thấy một ngọn lửa thật, không phải lửa diêm, cháy trong cái lò gang bé xíu. Em thấy một mẩu bánh mì và bát xúp còn bốc hơi, không phải món ngỗng quay biết đi, nhưng em có thể cầm lấy được. Em không thấy cây thông Nô-en nào, chỉ có một cành thông nhỏ bác thắp đèn nhặt được ngoài chợ, cắm vào cái chai, buộc thêm mẩu nến.
Sáng mồng một, người qua đường nhìn vào góc tường chỉ thấy một nắm que diêm cháy đen. Không ai biết ở cách đó ba dãy phố, có một em bé đang ngồi bên lò sưởi, kể cho hai ông bà già nghe về người bà đã đến với em đêm qua.
Lời người viết: Em không muốn xóa những lần quẹt diêm, vì đó là đoạn đẹp nhất của truyện. Em chỉ đổi một chỗ: người bà không mang em đi mà gửi em lại. Sau đó em cho ba ảo ảnh trước kia trở thành đồ thật nhưng nhỏ bé hơn: lò sưởi thành lò gang, bàn tiệc thành bát xúp, cây thông thành cành thông cắm trong chai. Em chọn người cứu là bác thắp đèn vì công việc của bác là đem ánh sáng tới cho phố, mà truyện của An-đéc-xen thì toàn là ánh sáng và bóng tối.
Mẫu 3: Nhật kí của bạn nhỏ trong bài thơ Bắt nạt
Ba trang nhật kí tưởng tượng của bạn nhỏ xưng tớ, nhân vật của Bắt nạt (Nguyễn Thế Hoàng Linh), viết trước và sau khi bạn ấy làm bài thơ.
Thứ Hai. Hôm nay cặp của tớ lại bị nhét vào thùng rác cuối lớp. Lần thứ ba trong tháng. Tớ nhặt lên, phủi vỏ bánh ra, giả vờ như không có gì. Mấy bạn ấy cười to lắm. Tớ không khóc đâu, chỉ thấy cái cặp hơi hôi, mà ngồi cả buổi cứ ngửi thấy mùi ấy.
Thứ Tư. Tớ để ý thấy một bạn mới chuyển đến ngồi bàn đầu, lúc nào cũng cúi gằm, giống con thỏ ở nhà ông ngoại mỗi khi có tiếng động. Giờ ra chơi, đám kia quay sang bạn ấy. Tớ tức. Bị trêu thì tớ quen rồi, chứ thấy người khác bị trêu thì không quen được. Tối về tớ ngồi nghĩ mãi: các bạn ấy làm thế để làm gì nhỉ? Sao không đi học nhảy, học hát, hay thi ăn mù tạt xem ai chịu cay giỏi hơn? Nghĩ đến đó tớ phì cười, thế là tớ viết luôn mấy câu thơ vào vở nháp.
Thứ Sáu. Bài thơ xong rồi. Tớ khuyên đừng bắt nạt ai cả, kể cả con mèo, cái cây, vì bắt nạt giống bệnh cúm, một người làm là người khác làm theo. Đoạn cuối tớ viết hơi liều: ai muốn bắt nạt thì cứ đến tìm tớ. Chép ra một tờ giấy sạch, tớ đưa cho bạn cầm đầu nhóm kia lúc tan học. Bạn ấy đọc, nhíu mày, rồi bảo tớ dở hơi. Nhưng tớ thấy bạn ấy gấp tờ giấy bỏ vào túi áo chứ không vứt đi. Bạn mới ở bàn đầu thì quay xuống nhìn tớ, lần đầu tiên cười.
Tớ chưa biết thứ Hai tuần sau cặp của tớ có còn vào thùng rác không. Nhưng tớ biết tớ sẽ không bao giờ đi bắt nạt ai, vì tớ đã ngửi thấy mùi của nó rồi.
Vì sao làm nhật kí: Bài thơ là lời khuyên vui vẻ, nhưng câu cuối cho thấy chính bạn nhỏ cũng từng bị bắt nạt nhiều. Em tự hỏi bạn ấy đã trải qua những gì trước khi viết như thế. Em chọn dạng nhật kí vì nhật kí là chỗ người ta nói thật nhất. Em cố giữ giọng nghịch ngợm của bài thơ, không để nhật kí thành một bài than khóc, và em không chép lại câu thơ nào, chỉ kể lại ý của bạn ấy bằng lời của em.
Mẫu 4: Thư của con cáo gửi hoàng tử bé
Lá thư tưởng tượng con cáo gửi hoàng tử bé sau khi hai bạn chia tay, dựa trên đoạn trích Nếu cậu muốn có một người bạn (Hoàng tử bé, Ăng-toan đơ Xanh-tơ Ê-xu-pe-ri).
Gửi bạn nhỏ tóc vàng của mình,
Mùa này lúa mì chín rồi. Bạn đi lâu đến mức cánh đồng đã kịp xanh, kịp trổ bông, kịp vàng rực lên một lượt. Chiều nào mình cũng ra ngồi ở mép ruộng, chỗ trước kia bạn ngồi cách mình một quãng trên cỏ. Gió thổi qua, cả cánh đồng nghiêng một bên như ai vuốt tóc, và mình lại thấy bạn.
Trước khi gặp bạn, lúa mì đối với mình chẳng là gì cả. Mình đâu có ăn bánh mì. Bây giờ thì khác. Người ta bảo cáo không biết nhớ, nhưng mình nhớ đấy, mà nhớ rất lâu. Bạn đã làm cho cả một cánh đồng thuộc về mình.
Ở đây mọi thứ vẫn như cũ. Mình vẫn săn gà, người ta vẫn săn mình. Nhưng có một điều mới: mỗi lần nghe tiếng chân ai đi qua bìa rừng, mình lại nhô đầu ra khỏi hang một chút, phòng khi đó là bạn. Chưa lần nào đúng. Mình không buồn vì chuyện đó lắm đâu. Chờ đợi một người cũng là một cách để biết mình đang có bạn.
Bạn đã về tới hành tinh của bạn chưa? Bông hồng của bạn có khỏe không? Bạn nhớ tưới nước, che chắn gió cho nó nhé. Nó có thể khó tính, nhưng nó là của bạn, vì bạn đã dành cho nó rất nhiều buổi chiều. Mình nói điều này hơi lắm lời, mình biết, nhưng đừng quên: ai đã cảm hóa thứ gì thì phải lo cho nó mãi mãi. Mình cũng là một thứ như thế.
Thôi, mặt trời sắp lặn. Đây là giờ mình hay đợi bạn. Mình sẽ ngồi xuống cỏ như mọi lần, và nhìn về phía trời.
Con cáo của bạn.
Người viết kể lại: Trong đoạn trích, người nói nhiều nhất là cáo, nhưng người ra đi lại là hoàng tử bé, nên em muốn biết cáo sống thế nào khi ở lại. Em dùng lại những hình ảnh của văn bản như đồng lúa mì chín, tiếng chân người, chỗ ngồi trên cỏ, để lá thư nghe đúng là của con cáo ấy. Phần em thêm là ý chờ đợi cũng là một cách có bạn. Em viết bằng câu ngắn, giọng chậm, vì em nghĩ cáo là người bạn rất kiên nhẫn.
Mẫu 5: Thư trả lời gửi thủ lĩnh da đỏ Xi-át-tơn
Thư tưởng tượng của một học sinh lớp 6 hôm nay gửi tác giả Bức thư của thủ lĩnh da đỏ. Người viết, ngôi trường và dòng kênh trong thư là giả định.
Kính gửi ông Xi-át-tơn,
Cháu là một học sinh lớp 6, sống ở một thành phố cách quê hương của ông nửa vòng Trái Đất và cách thời của ông hơn một trăm năm mươi năm. Tuần trước cô giáo cho lớp cháu đọc lá thư ông viết khi Tổng thống Mỹ ngỏ ý mua lại đất đai của bộ tộc ông. Cháu đọc tới đoạn ông bảo nước sông nước suối chính là máu của ông cha thì dừng lại, nhìn ra cửa sổ, vì ngay sau trường cháu có một con kênh.
Ông ơi, con kênh ấy không óng ánh đâu. Mùa khô, nước đen và có mùi. Người ta vứt túi ni lông, vỏ hộp xốp xuống, có lần cháu thấy cả một cái đệm cũ trôi lềnh bềnh. Cháu chưa bao giờ nghĩ con kênh là anh em của mình. Cháu chỉ nghĩ đó là chỗ bẩn, đi qua thì bịt mũi.
Đọc thư ông xong, cháu mới thấy ngượng. Ông viết rằng đất là mẹ, rằng hoa thơm, con ngựa, chim đại bàng đều là anh em. Ông còn kể chuyện những con trâu rừng bị bắn từ đoàn tàu rồi bỏ mặc. Cháu nghĩ, nếu ông đi dọc con kênh sau trường cháu, chắc ông sẽ buồn giống như ông đã buồn khi nhìn những con trâu ấy.
Cháu không hứa được những việc lớn, vì cháu mới mười một tuổi. Nhưng cháu và mấy bạn trong tổ đã bàn với nhau: mỗi sáng thứ Bảy, nhóm cháu nhặt rác ở đoạn bờ kênh ngay sau cổng trường, xin bác bảo vệ cái kẹp gắp. Cháu bỏ thói quen xin túi ni lông mỗi lần mua xôi. Ở góc sân có một cây bàng già, rễ trồi lên khỏi gạch, các bạn hay giẫm lên; lớp cháu sẽ quây cho nó một vòng gạch nhỏ để nó dễ thở. Mấy việc ấy nhỏ lắm, cháu biết, nhưng ông dặn hãy dạy cho lớp sau biết đất là mẹ, thì cháu nghĩ cháu phải tự học điều ấy trước đã.
Cháu chúc ông ở nơi xa được nghe tiếng gió thổi trên mặt hồ và ngửi mùi hoa thông như ngày xưa. Cháu sẽ viết thư cho ông lần nữa khi con kênh sau trường trong hơn một chút.
Cháu của ông,
Đan Thanh
Ghi chú của người viết: Bức thư của thủ lĩnh viết cho người da trắng thời đó, em thử tưởng tượng người đọc là chúng em bây giờ thì sẽ trả lời ra sao. Em không muốn viết những lời hứa to tát kiểu bảo vệ cả hành tinh, nên chỉ chọn một con kênh và một cái cây có thật ở gần mình. Em nhắc lại vài hình ảnh trong thư gốc bằng lời của mình, không chép nguyên câu.
Thơ và kịch bản chuyển thể
Mẫu 6: Thơ lục bát Bình minh trên đảo, viết từ bài kí Cô Tô
Bão tan, đảo sáng trong ngần
Cát vàng giòn hạt, sóng gần lam xa
Canh tư con dậy bước ra
Ngồi trên mũi đá, ngóng qua chân trời
Vầng hồng nhú giữa biển khơi
Tròn như lòng đỏ, sáng ngời mặt gương
Hải âu xoải cánh dẫn đường
Nhạn bay mấy chấm vấn vương nắng mai
Quanh bờ giếng ngọt nối dài
Thùng, chum, gánh nước theo hai mạn thuyền
Trên lưng chị, bé ngủ yên
Biển hiền như mẹ ru truyền ngàn năm
Chia sẻ cách làm: Em đi theo đúng thứ tự Nguyễn Tuân kể trong Cô Tô: sau bão, rồi mặt trời mọc, rồi cảnh bên giếng nước ngọt. Câu em mê nhất là chỗ tác giả tả mặt trời “tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”, nhưng chép nguyên vào thì không đủ chỗ trong sáu tiếng, nên em rút lại thành tròn như lòng đỏ. Khó nhất là dòng bốn, tiếng thứ sáu phải bắt vần với chữ ra; em thử tới, xa, rồi mới chọn qua. Ở hai dòng cuối, em đặt hình ảnh chị ngư dân địu con cạnh ý tác giả ví biển như người mẹ hiền, để bài thơ khép lại bằng hơi ấm con người.
Mẫu 7: Kịch bản ngắn Đeo nhạc cho mèo – Phiên họp của làng chuột
Chuyển thể truyện ngụ ngôn Đeo nhạc cho mèo thành kịch bản hai cảnh, dành cho nhóm bốn bạn diễn trong ngày hội với sách.
Nhân vật: Người dẫn chuyện; Ông Cống (béo, đeo kính, chống gậy); Chú Nhắt (nhỏ, nói nhanh); Anh Chù (chậm chạp, thật thà); Mèo (chỉ xuất hiện bằng tiếng kêu và cái bóng).
Cảnh 1. Gầm chạn bếp, đêm khuya.
NGƯỜI DẪN CHUYỆN: Làng chuột họp. Ai đã mất một người họ hàng vào miệng mèo thì đều có mặt. Mà hầu như ai cũng mất rồi.
ÔNG CỐNG: (gõ gậy ba cái) Trật tự! Thưa bà con, tôi đã thức ba đêm để nghĩ ra kế này. Con mèo đáng sợ là vì nó đi êm. Vậy ta treo vào cổ nó một cái nhạc. Nó đến, nhạc kêu leng keng, ta chạy trước.
CHÚ NHẮT: (nhảy cẫng) Hay quá! Ông Cống nhà ta đúng là bậc học rộng!
ANH CHÙ: (gật gù, chậm rãi) Hay… hay thật.
(Cả làng vỗ tay rào rào. Ông Cống vuốt râu, ưỡn bụng.)
Cảnh 2. Vẫn gầm chạn, ba hôm sau. Giữa sân khấu đặt một cái nhạc đồng.
NGƯỜI DẪN CHUYỆN: Nhạc đã mua được. Giờ chỉ còn một việc nhỏ.
CHÚ NHẮT: Thế… ai đi đeo ạ?
(Im lặng. Không ai nhúc nhích. Một tiếng meo từ xa vọng lại, cả bọn rụt cổ.)
CHÚ NHẮT: Người nghĩ ra kế thì hiểu kế nhất. Con xin cử ông Cống.
ÔNG CỐNG: (ho khan, chỉnh kính) Hừm. Tôi là bậc trên, việc của tôi là nghĩ, không phải chạy. Chú Nhắt nhanh nhẹn, chú đi là hợp nhất.
CHÚ NHẮT: (lùi lại) Con nhỏ thế này, mèo nuốt một miếng là hết, làng mất cả nhạc lẫn người. Anh Chù to khỏe lại chắc chắn, anh đi là yên tâm.
ANH CHÙ: (gãi đầu) Tôi đi cũng được. Nhưng mèo ăn mất tôi thì ai đi lần nữa?
ÔNG CỐNG: (vội vàng) Không lo! Anh hôi thế, mèo nó chê!
(Anh Chù vác cái nhạc, lẹt đẹt bước ra. Ánh đèn tối dần. Bóng mèo khổng lồ hiện lên tấm phông, hai mắt sáng, nhe nanh. Anh Chù quăng nhạc, chạy thục mạng vào giữa sân khấu.)
ANH CHÙ: Nó… nó nhe răng! Chạy đi bà con ơi!
(Cả làng chạy tán loạn, va vào nhau. Cái nhạc lăn lóc ra mép sân khấu, kêu leng keng một tiếng cuối cùng.)
NGƯỜI DẪN CHUYỆN: Từ đó, làng chuột vẫn sợ mèo. Còn cái nhạc thì đến giờ vẫn chưa ai tìm thấy.
Nhóm viết kịch bản chia sẻ: Chúng em giữ đúng thứ tự đùn đẩy trong truyện: ông Cống đẩy cho Nhắt, Nhắt đẩy cho Chù. Lời thoại thì chúng em tự viết cho dễ nói, vì lời trong bản kể cũ khá cổ, khó học thuộc. Chúng em thêm cái bóng mèo và tiếng nhạc lăn ở cuối để người xem cười mà vẫn hiểu: kế hay đến đâu cũng vô ích nếu ai cũng chỉ muốn người khác làm.
Tranh, truyện tranh và bìa sách kèm lời giới thiệu
Mẫu 8: Tranh minh họa Sông nước Cà Mau và lời giới thiệu
Lời giới thiệu bức tranh màu nước khổ A3 vẽ cảnh trong văn bản Sông nước Cà Mau (trích Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi), treo ở góc trưng bày của lớp.
Bức tranh của em có tên Chợ nổi Năm Căn lúc chiều xuống. Em không vẽ con kênh nhỏ ở đầu văn bản mà chọn khoảnh khắc con thuyền vừa rời kênh nhỏ, trước mặt mở ra sông rộng và cả một khu chợ, vì đó là lúc cảnh vật trong bài rộng nhất và đông vui nhất.
Tranh chia làm ba lớp từ trên xuống. Trên cùng là trời, em chỉ để một màu xanh nhạt pha chút vàng của nắng chiều. Ở giữa, hai bên là rừng đước dựng lên như hai bức tường dài. Em đọc thấy tác giả tả đước có nhiều tầng xanh khác nhau, nên em pha ba lọ màu: xanh non ở hàng cây thấp, xanh đậm ở giữa, xanh xám ở những ngọn cao nhất. Dưới cùng là mặt sông chiếm gần nửa tờ giấy, nước em tô xanh lục ánh đục, có vệt sóng trắng.
Chợ nằm ngay trên sông. Em vẽ nhà bè nối nhau thành dãy, mái lá nâu, vài ngọn đèn đã thắp sớm hắt bóng vàng xuống nước. Giữa sông là mấy chiếc xuồng nhỏ chở hàng len giữa thuyền lớn. Ở góc phải, em vẽ một đống gỗ cao và một lò than đang tỏa khói, vì văn bản có nhắc tới cảnh hầm than đước dọc bờ.
Chi tiết em thích nhất nằm ở góc trái, ngay sát mép tranh: một tấm bảng gỗ nhỏ cắm ở đầu con rạch, viết chữ kênh Bọ Mắt. Đây là cách người dân Cà Mau đặt tên kênh rạch theo đặc điểm của chính chỗ ấy, đọc lên thấy vừa buồn cười vừa thật. Người xem nhìn tấm bảng sẽ biết đây không phải con sông bất kì nào.
Khó nhất là màu xanh. Lần đầu em tô cả tranh một màu nên trông như bị phủ lớp kính. Em phải vẽ lại, để màu xanh đậm nhạt khác nhau và thêm màu nâu, vàng của chợ cho tranh có điểm nhìn. Khi treo tranh, em dán bên dưới một mảnh giấy ghi tên văn bản và tên tác giả để các bạn tìm đọc.
Mẫu 9: Kịch bản truyện tranh sáu khung Ếch ngồi đáy giếng
Kịch bản để vẽ truyện tranh khổ A4, chia sáu ô, theo bản kể dân gian của người Việt.
Khung 1. Hình: cắt ngang lòng giếng, rêu bám thành giếng, mặt nước lăn tăn. Ếch to ngồi trên hòn đá giữa nước, ưỡn ngực. Quanh nó, vài con nhái, cua, ốc nép vào thành giếng. Lời dẫn: Có một con ếch sống đã lâu dưới đáy giếng.
Ếch: Ộp! Cả giếng này nghe ta là run hết!
Khung 2. Hình: nhìn từ dưới lên, miệng giếng tròn, trời xanh vừa khít. Ếch ngửa cổ nhìn. Lời dẫn: Ngày ngày ngẩng lên, nó chỉ thấy một khoảng trời tròn.
Ếch: Trời ấy à? To bằng cái vung là cùng.
Khung 3. Hình: mưa trút xối xả, nét mưa chéo kín ô; nước dâng tới miệng giếng, ếch nổi bồng bềnh, mắt tròn xoe. Lời dẫn: Một năm trời mưa to, nước tràn bờ giếng, đưa ếch ra ngoài.
Khung 4. Hình: cánh đồng rộng, cỏ cao, ếch nhỏ xíu ở giữa nhưng vẫn ngẩng mặt, vừa đi vừa kêu. Vài con vật đứng xa nhìn theo. Lời dẫn: Quen thói cũ, ếch đi lại nghênh ngang, chẳng thèm nhìn quanh.
Ếch: Tránh ra! Chúa tể đi qua đây!
Khung 5. Hình: một bàn chân trâu to choán gần hết ô, đang hạ xuống. Bóng của nó phủ lên con ếch đang ngước nhìn trời. Chỉ có chữ tượng thanh: Uỳnh!
Khung 6. Hình: con trâu thong thả đi xa, không biết gì. Trên cỏ còn lại dấu chân trâu. Phía trên, bầu trời rộng mênh mông, có mây và một đàn chim. Lời dẫn: Ếch bị trâu giẫm bẹp. Còn bầu trời thì rộng hơn cái vung rất nhiều.
Ý đồ của người làm: Em để khung 2 và khung 6 đối nhau: một bên là khoảng trời bằng cái vung, một bên là bầu trời không có bờ. Khung 5 em không vẽ con ếch bị giẫm cho đỡ ghê, chỉ vẽ cái chân trâu và chữ tượng thanh, người xem tự hiểu. Lời thoại của ếch em viết thật kênh kiệu để khi lật tới hai khung cuối, các bạn nhỏ sẽ nhớ bài học về cái nhìn hẹp.
Mẫu 10: Bìa sách và lời giới thiệu tuyển tập cổ tích Hạt lúa biết đi
Sản phẩm của Nhữ Thanh Bình, lớp 6 (giả định): một cuốn sách nhỏ tự đóng, chép tay bốn truyện cổ tích, có bìa vẽ màu sáp và trang giới thiệu.
Bìa trước. Nền vàng rơm. Ở giữa là một hạt lúa to bằng quả bưởi, có đôi chân bé tí, đang lon ton đi trên bờ ruộng về phía một mái nhà tranh. Góc trên bên trái là một con chim nhỏ bay về phía dòng suối. Góc dưới bên phải là một cây nêu cao, ngọn treo khánh, đứng trước cổng làng. Sát mép dưới có một con còng bé đang vê những viên cát tròn trên bãi biển. Tên sách viết bằng chữ nâu đậm, nét to như chữ khắc gỗ: Hạt lúa biết đi. Dòng nhỏ bên dưới: Bốn truyện cổ tích Việt Nam, Nhữ Thanh Bình chép và vẽ.
Bìa sau. Một khung chữ nhỏ: Ngày xưa, lúa tự lăn về nhà, con chim từng là một người bà, cây nêu đuổi được quỷ và có người nghe hiểu tiếng chim muông. Mở sách ra để biết vì sao bây giờ không còn như thế nữa.
Lời giới thiệu của người làm sách
Mình chọn bốn truyện có chung một điều: chúng kể một chuyện ngày xưa đã khác đi như thế nào. Truyện thứ nhất là Sự tích cây lúa. Hạt lúa ngày xưa to và tự về nhà, cho đến khi có người đập vào nó vì sân chưa quét xong; từ đó con người phải cầm liềm ra đồng gặt. Truyện thứ hai là Cậu bé Tích Chu, người cháu mải chơi để bà khát nước tới mức hóa thành chim, phải đi rất xa lấy nước suối Tiên mới đưa được bà trở về. Truyện thứ ba là Sự tích cây nêu ngày Tết, nơi người nông dân dùng mẹo trồng khoai, trồng lúa để quỷ hết đường ăn gian. Truyện cuối là Sự tích con Dã Tràng, người có viên ngọc nghe hiểu tiếng muông chim mà rồi mất cả ngọc.
Những truyện quen như Tấm Cám, Thạch Sanh mình cố ý không chọn, vì ai cũng đã đọc nhiều lần. Bốn truyện này mình nghe ông kể từ hồi bé nhưng mãi đến năm nay mới tìm đọc lại trên sách. Mình chép tay từng truyện, mỗi truyện bốn trang, trang nào cũng có một hình vẽ nhỏ ở góc.
Lúc làm bìa, mình mất nhiều thời gian nhất ở chỗ đặt bốn hình vào một trang mà không rối. Cuối cùng mình để hạt lúa ở giữa thật to vì nó là tên sách, ba hình kia nằm ở ba góc, nhỏ thôi, như ba lời rủ: đọc tiếp đi. Mình hi vọng ai cầm cuốn sách lên cũng muốn biết vì sao hạt lúa lại có chân.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi thường gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Kể lại nguyên văn bản rồi gọi là sáng tạo | Giữ nhân vật, đổi hoặc thêm ít nhất một sự việc, một góc nhìn. Một mẹo: bắt đầu đúng ở trang cuối hoặc ở một chi tiết rẽ. |
| Nhân vật đổi tính đột ngột (con cáo thành hung dữ, Sơn thành ích kỉ) | Đọc lại đoạn tả nhân vật trong sách, ghi ba nét tính cách và giữ chúng xuyên suốt. |
| Thơ lệch vần, đếm sai tiếng | Đọc to từng dòng, đếm bằng ngón tay; xem tiếng thứ sáu của dòng bát đã hợp vần với tiếng cuối dòng lục phía trên chưa. |
| Kịch bản viết như truyện, lời thoại đặt trong ngoặc kép | Mỗi lời thoại bắt đầu bằng tên nhân vật; hành động, cảm xúc ghi trong ngoặc đơn. |
| Tranh đẹp nhưng không có chữ giới thiệu | Viết dưới tranh: tên sách, tác giả, khoảnh khắc được vẽ, chi tiết nên nhìn trước. |
| Chép quá nhiều câu trong sách | Chỉ trích vài cụm ngắn thật cần, ghi đúng từng chữ, đặt trong ngoặc kép; mọi chỗ khác kể bằng lời của em. |
| Phần chia sẻ chỉ có một câu kiểu em rất thích truyện này | Nói rõ chi tiết gợi ý tưởng, chỗ em đã sửa, chỗ em thấy khó. |
Mẹo nâng điểm: hãy để một chi tiết của bản gốc quay lại ở sản phẩm của em nhưng mang nghĩa mới, như cái áo bông ở Mẫu 1, cây thông ở Mẫu 2, khoảng trời bằng cái vung ở Mẫu 9. Người đọc nhận ra chi tiết ấy sẽ thấy em đã đọc kĩ, còn nghĩa mới của nó là phần sáng tạo của riêng em.
Gợi ý bài nói: Giới thiệu sản phẩm minh họa sách
Trong ngày hội với sách, mỗi sản phẩm cần được giới thiệu trong khoảng một đến hai phút. Bài nói nên đi theo thứ tự sau:
- Chào người nghe, nói tên sản phẩm, tên cuốn sách và tác giả.
- Kể ngắn gọn chi tiết trong sách đã làm em nảy ý tưởng.
- Chỉ vào sản phẩm: nhìn vào đâu trước, nhìn vào đâu sau; với bài thơ, truyện thì đọc một đoạn ngắn.
- Nói một điều em đã thử và một điều em còn muốn làm thêm.
- Mời các bạn hỏi, và cảm ơn.
Bài nói có thể mở đầu như sau: Xin chào cả lớp, bức tranh mình mang đến hôm nay vẽ chợ Năm Căn trong văn bản Sông nước Cà Mau của nhà văn Đoàn Giỏi. Trước khi mình nói, các bạn thử tìm giúp mình tấm bảng gỗ nhỏ ở góc trái tranh nhé. Đó là chi tiết mình thích nhất, và cũng là lí do mình chọn vẽ đoạn văn này.
Chọn sản phẩm nào để thử sức?
Nếu em thích viết, hãy bắt đầu từ Mẫu 1 hoặc Mẫu 2: chọn một truyện đã học, tìm chỗ em muốn biết thêm và viết tiếp từ đó. Nếu em ngại viết dài, Mẫu 3, 4, 5 cho thấy một trang nhật kí hay một lá thư ngắn vẫn đủ để nhân vật nói điều sách chưa nói. Bạn nào học tốt luật thơ có thể thử Mẫu 6; nhóm thích diễn thì lấy Mẫu 7 làm khung cho một truyện ngụ ngôn khác. Bạn khéo tay nên chọn Mẫu 8, 9, 10 và nhớ rằng phần chữ giới thiệu cũng được chấm. Dù làm dạng nào, sản phẩm tốt nhất vẫn là sản phẩm làm từ cuốn sách em thật sự yêu.
Xem thêm:
- Soạn bài Gió lạnh đầu mùa, Tóm tắt Gió lạnh đầu mùa
- Soạn bài Cô bé bán diêm, Tóm tắt Cô bé bán diêm
- Soạn bài Bắt nạt, Soạn bài Nếu cậu muốn có một người bạn
- Soạn bài Bức thư của thủ lĩnh da đỏ
- Soạn bài Cô Tô, Phân tích bài kí Cô Tô, Tóm tắt Sông nước Cà Mau
- Truyện để chuyển thể: Đeo nhạc cho mèo, Tóm tắt Ếch ngồi đáy giếng, Cậu bé Tích Chu, Sự tích cây lúa, Sự tích cây nêu ngày Tết, Sự tích con Dã Tràng
- Bài Viết cùng Bài 10: Trình bày ý kiến về một hiện tượng đời sống (lớp 6)
- Văn mẫu lớp 6 khác: Tập làm một bài thơ lục bát, Đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích, Kể lại một truyện cổ tích, truyền thuyết
- Tổ chức đọc cùng bạn bè: Lập kế hoạch câu lạc bộ đọc sách