Phân tích bài kí Cô Tô của Nguyễn Tuân là đề văn thường gặp sau khi học Bài 5 “Những nẻo đường xứ sở” sách Ngữ văn 6 Kết nối tri thức. Bài kí đưa người đọc ra quần đảo Cô Tô ở vùng biển Đông Bắc, qua trận bão dữ dội, buổi sáng trong trẻo sau bão, cảnh bình minh tráng lệ trên biển và cuộc sống đông vui quanh giếng nước ngọt trên đảo Thanh Luân.
Bài viết gồm dàn ý chi tiết và 7 bài văn mẫu: ngắn gọn, đầy đủ, phân tích cảnh bình minh trên biển, cảnh Cô Tô sau bão, cảnh trận bão, cảnh sinh hoạt bên giếng nước ngọt và bài cảm nhận của học sinh giỏi. Trước khi viết, em nên xem lại bài soạn bài Cô Tô để nắm chắc dẫn chứng.
Dàn ý phân tích bài kí Cô Tô
Dàn ý dưới đây bám theo bốn cảnh của văn bản; với đề chỉ yêu cầu phân tích một cảnh (ví dụ cảnh bình minh), em mở rộng luận điểm tương ứng và rút gọn các phần còn lại.

1. Mở bài
– Giới thiệu Nguyễn Tuân – nhà văn tài hoa, bậc thầy của thể tuỳ bút và kí.
– Giới thiệu bài kí Cô Tô: viết sau chuyến ra thăm quần đảo Cô Tô, in lần đầu năm 1976; văn bản SGK là phần cuối bài kí.
– Nêu nhận xét chung: bài kí vẽ nên bức tranh thiên nhiên tráng lệ và cuộc sống thanh bình nơi đảo xa, thể hiện tình yêu của tác giả với biển đảo quê hương.
2. Thân bài
a. Trận bão biển dữ dội
+ Tác giả dùng từ ngữ quân sự: “trận địa”, “hoả lực”, cát bắn như đạn, gió “thay băng đạn”, tiếng sóng như trống trận.
+ Huy động nhiều giác quan: xúc giác (cát quất rát mặt), thính giác (sóng rền, gió rít), thị giác (trời đất trắng mù).
⇒ Cơn bão hiện lên như một trận chiến, làm nền cho vẻ đẹp trong trẻo sau bão.
b. Cô Tô sau bão – trong trẻo, sáng sủa
+ Vị trí quan sát: nóc đồn biên phòng, nhìn bao quát toàn cảnh.
+ Bầu trời trong sáng; cây xanh mượt, nước biển lam biếc, cát vàng giòn; lưới nặng mẻ cá.
+ Điệp từ “lại”, so sánh hơn (“hơn hết cả mọi khi”) nhấn mạnh sự tươi mới.
+ Tình cảm: yêu hòn đảo như người chài sinh ra, lớn lên ở đây.
⇒ Bức tranh tươi sáng, tinh khôi; tình yêu gắn bó của nhà văn.
c. Cảnh mặt trời mọc trên biển – tráng lệ, hùng vĩ
+ Sự chuẩn bị công phu: dậy từ canh tư, ra đầu mũi đảo “rình” mặt trời.
+ Khung cảnh: chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính.
+ Mặt trời: tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ quả trứng thiên nhiên; đặt trên mâm bạc, mâm lễ phẩm mừng người chài lưới.
+ Chi tiết điểm xuyết: nhạn mùa thu, hải âu là là nhịp cánh.
+ Màu sắc: đỏ, hồng, bạc, ngọc trai; hình ảnh trang trọng, thiêng liêng.
⇒ Bức tranh bình minh rực rỡ; tài quan sát, trí tưởng tượng phong phú của Nguyễn Tuân.
d. Cảnh sinh hoạt bên giếng nước ngọt
+ Thời điểm: mặt trời đã lên; nơi đông vui nhất đảo.
+ Giếng nước “vui như một cái bến”, hơn cả chợ đất liền; người múc, người gánh nước xuống thuyền ra khơi.
+ Hình ảnh chị Châu Hoà Mãn địu con – biển cả như mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành.
⇒ Cuộc sống lao động khẩn trương, đông vui mà bình yên; tình cảm trìu mến của nhà văn với con người Cô Tô.
e. Đặc sắc nghệ thuật
+ Lựa chọn vị trí, thời điểm quan sát hợp lí; miêu tả theo trình tự thời gian.
+ So sánh, ẩn dụ, nhân hoá độc đáo, bất ngờ; vốn từ ngữ phong phú.
+ Kết hợp miêu tả với tự sự, biểu cảm; ngôi kể thứ nhất tạo cảm giác chân thực.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị bài kí: bức tranh đẹp về thiên nhiên và con người Cô Tô.
– Liên hệ: tình yêu thiên nhiên, ý thức trân trọng và bảo vệ biển đảo quê hương.
Phân tích bài kí Cô Tô ngắn gọn – mẫu 1
Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách tài hoa, cả đời say mê đi và viết về cái đẹp. Bài kí Cô Tô, viết sau chuyến ra thăm quần đảo Cô Tô, là một trang văn đẹp về thiên nhiên và con người vùng biển đảo quê hương.
Mở đầu văn bản là trận bão dữ dội. Nhà văn tả bão như một trận chiến với “trận địa”, “hoả lực”, cát bắn vào người như đạn, sóng rền như trống trận. Nhờ đó, người đọc cảm nhận rõ sức mạnh ghê gớm của thiên nhiên biển cả. Bão qua, Cô Tô bừng lên trong trẻo: “Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo, sáng sủa.” Từ nóc đồn biên phòng, tác giả thấy cây xanh mượt hơn, nước biển lam biếc hơn, cát vàng giòn hơn – quần đảo như vừa được tắm gội.
Đẹp nhất là cảnh mặt trời mọc trên biển. Nhà văn dậy từ canh tư, ra đầu mũi đảo chờ đón. Mặt trời hiện lên “tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”, đặt trên mâm bạc là mặt biển. Hình ảnh so sánh vừa gần gũi vừa trang trọng, tạo nên bức tranh bình minh rực rỡ, tráng lệ.
Khép lại bài kí là cảnh sinh hoạt quanh cái giếng nước ngọt trên đảo Thanh Luân. Người dân tấp nập múc nước, gánh nước xuống thuyền ra khơi. Hình ảnh chị Châu Hoà Mãn địu con dịu dàng khiến nhà văn liên tưởng biển cả như người mẹ hiền.
Với ngòi bút quan sát tinh tế, những so sánh độc đáo và ngôn ngữ giàu hình ảnh, Cô Tô giúp em thêm hiểu, thêm yêu một vùng đất nơi biển đảo của Tổ quốc.
Phân tích bài kí Cô Tô đầy đủ – mẫu 2
Nguyễn Tuân (1910–1987) là một trong những nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại, được xem là bậc thầy của thể tuỳ bút và kí. Ông có sở thích xê dịch, đi nhiều, viết nhiều về những vùng đất của Tổ quốc. Cô Tô là bài kí ông viết sau chuyến ra thăm quần đảo Cô Tô, in lần đầu năm 1976. Qua bài kí, Nguyễn Tuân đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên và cuộc sống vùng đảo vừa hùng vĩ, vừa trong sáng, thanh bình.
Văn bản mở đầu bằng cảnh một trận bão biển. Với con mắt của một người am hiểu nhiều lĩnh vực, Nguyễn Tuân chọn cách tả bão như tả một trận đánh. Vùng bão là “trận địa”, sức mạnh của bão là “hoả lực”, từng hạt cát bắn vào má vào gáy như đạn, gió có lúc ngừng như để “thay băng đạn” rồi lại quạt liên hồi, sóng biển dồn vào bờ rền vang như trống trận. Tác giả huy động nhiều giác quan – cảm nhận cái rát trên da, nghe tiếng gió rít, tiếng sóng rền, nhìn trời đất trắng mù – để cơn bão hiện ra sống động. Cơn bão càng dữ dội bao nhiêu thì vẻ đẹp của Cô Tô sau bão càng rạng rỡ bấy nhiêu.
Ngày thứ năm trên đảo, trời quang mây tạnh. Nhà văn trèo lên nóc đồn biên phòng để nhìn bao quát cả quần đảo. Ông nhận ra quy luật của thiên nhiên nơi đây: sau mỗi lần dông bão, bầu trời Cô Tô lại trong sáng như vậy. Câu văn “Cây trên núi đảo lại thêm xanh mượt, nước biển lại lam biếc đậm đà hơn hết cả mọi khi, và cát lại vàng giòn hơn nữa.” dùng điệp từ “lại” và những tính từ chỉ màu sắc chọn lọc, khiến cảnh vật như được làm mới. Đứng trước cảnh ấy, nhà văn thấy yêu mến hòn đảo như chính người dân chài sinh ra, lớn lên theo mùa sóng nơi đây – một tình cảm chân thành của người khách đã coi đảo xa như quê hương.
Đoạn văn đặc sắc nhất là cảnh mặt trời mọc. Để ngắm bình minh, nhà văn dậy từ canh tư, ra tận đầu mũi đảo Thanh Luân. Chữ “rình” cho thấy sự háo hức, kiên nhẫn, trân trọng của ông trước khoảnh khắc thiên nhiên. Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính. Mặt trời nhú lên dần dần rồi hiện ra “tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”. Chưa dừng lại, tác giả ví mặt trời như quả trứng hồng hào đặt trên mâm bạc rộng bằng cả chân trời, như “một mâm lễ phẩm” mừng sự trường thọ của những người chài lưới. Màu đỏ, hồng, bạc, ngọc trai hoà quyện; vài cánh nhạn, một cánh hải âu điểm xuyết thêm sự sống. Bức tranh vừa rực rỡ, vừa trang nghiêm, thể hiện trí tưởng tượng phong phú và tấm lòng yêu mến người lao động của Nguyễn Tuân.
Cuối cùng là cảnh sinh hoạt bên cái giếng nước ngọt. Khi mặt trời đã lên, giếng nước ở rìa đảo trở thành nơi đông vui nhất: người múc, người gánh, người đổ nước xuống thuyền để chuẩn bị ra khơi. Nhà văn so sánh sinh hoạt ở đây vui như một cái bến, đậm đà hơn mọi cái chợ trong đất liền. Khép lại bài kí là hình ảnh chị Châu Hoà Mãn địu con, dịu dàng và yên tâm, gợi cho nhà văn hình ảnh biển cả như người mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành. Một kết thúc thật ấm áp: biển không chỉ đẹp mà còn nuôi sống, che chở con người.
Thành công của bài kí trước hết ở nghệ thuật quan sát: tác giả chọn những vị trí và thời điểm đẹp nhất để ngắm cảnh. Ngôn ngữ của Nguyễn Tuân chính xác, giàu hình ảnh; những so sánh, ẩn dụ bất ngờ mà hợp lí. Ngôi kể thứ nhất khiến những gì được kể thêm chân thực, thấm đẫm cảm xúc.
Cô Tô đã đưa người đọc đến với một vùng biển đảo xa xôi mà gần gũi. Đọc bài kí, em thêm yêu thiên nhiên, trân trọng những người dân ngày đêm bám biển và ý thức hơn về trách nhiệm giữ gìn biển đảo quê hương.
Phân tích cảnh bình minh trên biển Cô Tô – mẫu 3
Trong bài kí Cô Tô, đoạn văn tả cảnh mặt trời mọc trên biển được coi là một trong những đoạn văn miêu tả đẹp nhất của Nguyễn Tuân. Chỉ bằng vài câu văn, nhà văn đã vẽ nên bức tranh bình minh vừa rực rỡ, vừa trang nghiêm, in đậm phong cách tài hoa của mình.
Trước hết, cần thấy sự chuẩn bị công phu của người ngắm cảnh. Nhà văn thức dậy từ canh tư, khi trời còn tối, đi mãi ra đầu mũi đảo để “rình” mặt trời lên. Một chữ “rình” thôi đã cho thấy tâm thế háo hức, chăm chú, sợ bỏ lỡ khoảnh khắc thiêng liêng. Với Nguyễn Tuân, thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên là một việc cần được trân trọng như một nghi lễ.
Khung cảnh được mở ra bằng nền trời biển tinh khiết: “Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi.” Phép so sánh gợi độ trong vắt tuyệt đối của không gian, như một tấm phông nền sạch sẽ để mặt trời xuất hiện. Rồi mặt trời nhú lên dần dần, lên cho kì hết. Nhịp văn chậm rãi theo từng chuyển động của vầng thái dương.
Hình ảnh trung tâm là mặt trời: “Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn.” Phép so sánh vừa gần gũi, vừa bất ngờ. Lòng đỏ quả trứng gợi hình tròn, màu đỏ tươi và cả cảm giác đầy đặn, sự sống. Các từ “tròn trĩnh”, “phúc hậu”, “đầy đặn” còn khiến mặt trời mang dáng vẻ hiền hậu như một con người. Tiếp đó, nhà văn mở rộng liên tưởng: quả trứng hồng hào, thăm thẳm, đường bệ đặt lên mâm bạc rộng bằng cả chân trời màu ngọc trai. Cả bức tranh trở thành “một mâm lễ phẩm” tiến ra từ bình minh để mừng sự trường thọ của những người chài lưới trên biển Đông. Từ một cảnh thiên nhiên, Nguyễn Tuân đã nâng lên thành một nghi lễ trang trọng, thể hiện niềm trân quý của ông dành cho người lao động biển.
Để bức tranh không tĩnh lặng, tác giả điểm thêm vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại và một con hải âu bay ngang, là là nhịp cánh. Những nét chấm phá nhỏ làm cảnh thêm sống động, có hồn. Về màu sắc, đoạn văn là sự hoà phối tinh tế của đỏ, hồng, bạc, ngọc trai – như một bức sơn dầu, cho thấy con mắt hội hoạ của nhà văn.
Đoạn văn tả cảnh bình minh trên biển Cô Tô là minh chứng cho tài quan sát, óc tưởng tượng phong phú và vốn ngôn ngữ giàu có của Nguyễn Tuân. Đọc đoạn văn, em như được đứng trên đầu mũi đảo Thanh Luân, cùng nhà văn đón ánh mặt trời đầu tiên của một ngày mới trên biển quê hương.
Phân tích cảnh Cô Tô sau cơn bão – mẫu 4
Trong bài kí Cô Tô, sau những dòng tả trận bão dữ dội, Nguyễn Tuân chuyển sang miêu tả vùng đảo vào ngày thứ năm – một ngày trong trẻo, sáng sủa. Đây là đoạn văn thể hiện rõ con mắt quan sát tinh tế và tình yêu sâu sắc của nhà văn với mảnh đất nơi đầu sóng.
Câu văn mở đầu đoạn đã định hình không khí của cả bức tranh: “Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo, sáng sủa.” Hai tính từ “trong trẻo”, “sáng sủa” gợi một bầu trời quang đãng, không một gợn mây, đối lập hẳn với cảnh trời đất trắng mù trong cơn bão. Nhà văn còn khái quát một quy luật riêng của thiên nhiên nơi đây: sau mỗi lần dông bão, bầu trời Cô Tô bao giờ cũng trong sáng như vậy. Cô Tô hiện ra như vừa bước qua thử thách để đẹp hơn.
Vẻ đẹp ấy được cụ thể hoá qua ba màu sắc: cây xanh mượt, nước biển lam biếc đậm đà, cát vàng giòn. Nguyễn Tuân không dùng những từ chỉ màu chung chung mà chọn những từ rất riêng. “Xanh mượt” gợi vẻ tươi non, óng ả; “lam biếc” gợi màu nước sâu, trong; đặc biệt “vàng giòn” là cách nói độc đáo, như thể ánh nắng làm cát khô ráo, lấp lánh, có thể cảm nhận bằng cả thị giác lẫn xúc giác. Điệp từ “lại” cùng các cụm so sánh hơn nhấn mạnh sự đổi mới: cảnh vật không chỉ đẹp mà còn đẹp hơn mọi khi. Bão qua còn để lại mẻ lưới nặng hơn – thiên nhiên không chỉ đẹp mà còn hào phóng với con người.
Vị trí quan sát được lựa chọn rất khéo: nóc đồn biên phòng. Từ trên cao, tầm mắt nhà văn trải rộng ra biển cả mênh mông và thu trọn các hòn đảo Tô Bắc, Tô Trung, Tô Nam. Cách quan sát từ cao xuống, từ xa đến gần giúp bức tranh vừa bao quát, vừa có chiều sâu.
Đặc biệt, cảnh vật đã khơi dậy tình cảm sâu nặng trong lòng người viết. Nhà văn tự nhận mình “càng thấy yêu mến hòn đảo như bất cứ người chài nào đã từng đẻ ra và lớn lên theo mùa sóng ở đây”. Là người khách từ đất liền, ông lại thấy mình gắn bó như người con của đảo. Câu văn cho thấy Cô Tô đã chạm vào trái tim nhà văn bằng vẻ đẹp tinh khôi của nó.
Đoạn văn tả Cô Tô sau bão tuy ngắn nhưng giàu màu sắc và cảm xúc. Qua đó, em hiểu vì sao Nguyễn Tuân được xem là nhà văn của cái đẹp: ông luôn biết tìm ra vẻ đẹp ngay cả ở những nơi vừa trải qua giông bão.
Phân tích cảnh trận bão biển trong bài Cô Tô – mẫu 5
So với văn bản trong sách giáo khoa cũ, bài Cô Tô trong sách Ngữ văn 6 Kết nối tri thức có thêm đoạn tả trận bão biển. Đây là đoạn văn thể hiện rõ sự uyên bác và cách viết độc đáo của Nguyễn Tuân, đồng thời làm nền cho vẻ đẹp trong trẻo của Cô Tô ở các đoạn sau.
Nét đặc sắc nhất của đoạn văn là cách nhà văn tả trận bão như một trận chiến. Ông dùng hàng loạt từ ngữ quân sự: vùng bão là “trận địa”, sức tấn công của bão là “hoả lực”, hạt cát bay tới như những viên đạn, gió có lúc ngừng lại như để “thay băng đạn”, rồi lại quạt liên thanh, tiếng sóng dồn dập như trống trận. Những từ ngữ ấy khiến cơn bão không còn là một hiện tượng tự nhiên đơn thuần mà trở thành một đội quân hung hãn, có chiến thuật, có vũ khí. Người đọc như nghe thấy tiếng súng nổ, cảm nhận được sự nguy hiểm đang bủa vây.
Để cơn bão sống động, Nguyễn Tuân còn huy động nhiều giác quan. Bằng xúc giác, ông cảm nhận từng hạt cát quất rát vào má, vào gáy. Bằng thính giác, ông nghe tiếng gió rít, tiếng sóng rền rền, âm âm dội vào bờ. Bằng thị giác, ông thấy trời đất trắng mù mù, cửa kính bị gió ép vỡ tung. Những từ láy tượng thanh, tượng hình được dùng dày đặc tạo nên không khí căng thẳng, ngột ngạt.
Cách tả bão như vậy cho thấy vốn hiểu biết rộng của Nguyễn Tuân – ông từng đi nhiều, từng chứng kiến chiến tranh, nên mượn ngôn ngữ chiến trận để tả thiên nhiên là rất tự nhiên với ngòi bút của ông. Đồng thời, cơn bão dữ dội còn gợi những khó khăn, thử thách mà người dân và chiến sĩ trên đảo phải đối mặt hằng năm.
Quan trọng hơn, đoạn tả bão có vai trò tạo sự tương phản. Cơn bão càng dữ dội, u tối bao nhiêu thì cảnh Cô Tô sau bão càng trong trẻo, sáng sủa bấy nhiêu. Nhờ sự đối lập ấy, người đọc cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp tươi mới của quần đảo và sức sống bền bỉ của thiên nhiên, con người nơi đây.
Đoạn văn tả trận bão cho em thấy một Nguyễn Tuân tài hoa và uyên bác, luôn tìm cách diễn đạt mới lạ để lời văn có sức gợi mạnh mẽ. Học đoạn văn này, em hiểu thêm rằng muốn miêu tả hay, người viết cần quan sát bằng tất cả các giác quan và mạnh dạn liên tưởng.
Phân tích cảnh sinh hoạt bên giếng nước ngọt ở Cô Tô – mẫu 6
Nếu các đoạn trước của bài kí Cô Tô tập trung vào thiên nhiên, thì đoạn cuối lại hướng về con người. Cảnh sinh hoạt bên cái giếng nước ngọt trên đảo Thanh Luân đã làm cho bức tranh Cô Tô trở nên trọn vẹn: thiên nhiên đẹp và cuộc sống con người cũng thật đáng yêu.
Thời điểm được chọn là khi mặt trời đã lên, buổi sáng bắt đầu nhộn nhịp. Nơi đông vui nhất đảo là cái giếng nước ngọt ở rìa đảo. Với người dân vùng biển, nước ngọt vô cùng quý giá, nên cái giếng trở thành trung tâm của đời sống. Nhà văn so sánh sinh hoạt quanh giếng vui như một cái bến và đậm đà, mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền. Phép so sánh cho thấy sự tấp nập, rộn ràng nhưng không ồn ã, mà thân tình, ấm áp.
Quanh giếng, người dân lần lượt múc nước, gánh nước xuống những chiếc thuyền sắp ra khơi. Không khí lao động khẩn trương, đông vui mà ngăn nắp. Qua nét bút của Nguyễn Tuân, người đọc cảm nhận được nhịp sống của một làng chài: mỗi buổi sáng là một chuyến ra khơi, mỗi chuyến ra khơi cần sự chuẩn bị chu đáo của cả cộng đồng.
Đặc biệt, bài kí khép lại bằng một hình ảnh giàu sức gợi: “Trông chị Châu Hoà Mãn địu con, thấy nó dịu dàng yên tâm như cái hình ảnh biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành.” Từ hình ảnh người mẹ địu con, nhà văn liên tưởng đến biển cả như người mẹ hiền nuôi nấng con người bằng nguồn cá tôm dồi dào. Liên tưởng ấy vừa nói lên tình cảm mẹ con ấm áp, vừa thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa con người và biển: biển nuôi sống con người, con người yêu thương, gắn bó với biển.
Nếu thiếu đoạn văn này, Cô Tô dù đẹp đến đâu cũng chỉ là một bức tranh thiên nhiên vắng lặng. Chính con người đã làm cho bức tranh có sự sống, có hơi ấm. Đoạn kết cho thấy tấm lòng trìu mến, trân trọng của Nguyễn Tuân dành cho những người lao động bình dị nơi đảo xa.
Cảm nhận về bài kí Cô Tô của Nguyễn Tuân (bài học sinh giỏi) – mẫu 7
Có những vùng đất ta chưa từng đặt chân tới nhưng lại thấy thân quen qua trang văn. Với em, quần đảo Cô Tô là một vùng đất như thế, nhờ bài kí cùng tên của Nguyễn Tuân. Đọc Cô Tô, em không chỉ được ngắm biển trời, mà còn được đi cùng một người nghệ sĩ luôn say mê kiếm tìm cái đẹp.
Điều đầu tiên em cảm nhận được là sự công phu của một người viết kí. Nguyễn Tuân không ghi chép cảnh vật một cách dễ dãi. Ông chọn những vị trí quan sát đẹp nhất: nóc đồn biên phòng để ngắm toàn cảnh đảo, đầu mũi đảo để đón mặt trời, bên giếng nước để gặp gỡ con người. Ông cũng chọn thời điểm đẹp nhất: buổi sáng sau bão, lúc rạng đông, khi nắng vừa lên. Mỗi cảnh vật vì thế đều hiện ra trong khoảnh khắc rực rỡ nhất của nó. Em hiểu rằng cái đẹp không tự đến với người thờ ơ; phải biết dậy từ canh tư, phải kiên nhẫn “rình” như nhà văn, ta mới có được một bình minh trọn vẹn.
Điều thứ hai khiến em ấn tượng là ngôn ngữ tài hoa của Nguyễn Tuân. Cơn bão được tả như một trận đánh; màu cát được gọi là “vàng giòn”; mặt trời được ví như lòng đỏ quả trứng, như mâm lễ phẩm dâng lên người chài lưới. Mỗi hình ảnh đều bất ngờ, nhưng càng ngẫm càng thấy đúng. Đọc những câu văn ấy, em hiểu rằng tiếng Việt có thể vẽ nên cả một bức tranh nhiều màu sắc, và người viết giỏi là người biết tìm ra từ ngữ đắt nhất cho điều mình muốn nói.
Nhưng điều làm em xúc động nhất lại là tình người trong bài kí. Sau những trang tả cảnh tráng lệ, Nguyễn Tuân dừng lại bên cái giếng nước ngọt, nơi những người dân bình dị đang chuẩn bị cho chuyến ra khơi. Hình ảnh chị Châu Hoà Mãn địu con và liên tưởng về biển cả như mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành khiến em thấy biển không chỉ đẹp mà còn thật bao dung. Nhà văn đứng trên đảo không như một người khách, mà như một người con yêu mến hòn đảo như người chài sinh ra ở đó.
Đặt bài kí trong bối cảnh hôm nay, em càng thấm thía ý nghĩa của nó. Những hòn đảo như Cô Tô là một phần máu thịt của Tổ quốc, nơi có những người dân, người lính ngày đêm bám biển. Yêu Cô Tô qua trang văn của Nguyễn Tuân cũng là yêu biển đảo quê hương, và từ tình yêu ấy, mỗi người sẽ có ý thức giữ gìn từng vùng biển, từng hòn đảo của đất nước.
Gấp trang sách lại, em vẫn như thấy vầng mặt trời tròn trĩnh nhô lên trên mặt biển ửng hồng. Em mong một ngày được đến Cô Tô, đứng ở đầu mũi đảo Thanh Luân, để đón bình minh như nhà văn năm nào.
Kết luận
Dàn ý và 7 bài văn mẫu phân tích bài kí Cô Tô trên giúp em tiếp cận văn bản từ nhiều phía: toàn bộ bài kí, từng cảnh (bão, sau bão, bình minh, giếng nước ngọt) và cảm nhận chung. Khi làm bài, em nên trích dẫn ngắn, bám vào từ ngữ, hình ảnh tiêu biểu và nói lên cảm xúc của chính mình.
Xem thêm:
- Soạn bài Cô Tô – Ngữ văn 6 Kết nối tri thức
- Soạn bài Hang Én – Ngữ văn 6 Kết nối tri thức
- Phân tích Vẻ đẹp của Sông Đà (Nguyễn Tuân)
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân