Phạm trù là loại khái niệm khái quát bậc nhất, dùng để gom những sự vật, hiện tượng hay mối quan hệ có chung một tính chất cơ bản vào cùng một loại, chẳng hạn vật chất, ý thức, số lượng, chất lượng. Ngoài phạm trù triết học, từ này còn có mặt trong ngữ pháp và trong câu nói hằng ngày: bảo một chuyện “thuộc phạm trù đạo đức” tức là xếp nó vào loại chuyện đạo đức.
Bài giải nghĩa riêng về khái niệm nội hàm giúp phân biệt khái niệm này với những từ dễ nhầm.
| Nghĩa ngắn | Khái niệm rộng nhất, chỉ một loại sự vật, hiện tượng hoặc quan hệ chung |
| Chữ Hán | 範疇: phạm là khuôn phép, trù là loài, loại |
| Loại từ | Danh từ |
| Hay gặp ở | Triết học, ngôn ngữ học, toán học, văn bản trang trọng |
| Tiếng Anh | category |

Phạm trù và chín loại phép trong Kinh Thư
Muốn nhớ chữ này, nên bắt đầu từ hai mặt chữ Hán. Chữ phạm 範 vốn là cái khuôn đúc, rồi chuyển sang nghĩa khuôn phép, giới hạn; nó còn nằm trong quy phạm, mô phạm, sư phạm, phạm vi. Chữ trù 疇 thì gốc là ruộng, là từng luống ruộng chia ô, sau mới có nghĩa “loài, loại”.
Hai chữ đứng chung được với nhau là nhờ thiên Hồng phạm trong Kinh Thư. Ở đó có câu kể trời ban cho vua Vũ “hồng phạm cửu trù”, tức khuôn phép lớn để trị thiên hạ, chia làm chín loại. Chuyện được thuật lại qua lời Cơ Tử. Cái hình ảnh luống ruộng chia ô ngay ngắn hợp với ý “xếp mọi việc vào từng loại” đến lạ.
Về sau, khi triết học phương Tây được dịch sang chữ Hán, người ta lấy phạm trù để chuyển chữ category. Chữ này đi ngược về tiếng Hy Lạp katēgoria; Aristotle từng chia mọi điều có thể nói về một vật thành mười phạm trù như thực thể, lượng, chất, quan hệ, nơi chốn, thời gian. Tiếng Việt nhận lại từ ấy theo âm Hán Việt.
Từ giờ triết học đến câu nói thường ngày
Trong sách vở, phạm trù được dùng theo ba mức, từ hẹp đến rộng dần về phía đời thường.
Trong triết học, phạm trù là tầng khái niệm trên cùng, nắm lấy những mặt và những quan hệ mà sự vật nào cũng có. Vật chất và ý thức là hai phạm trù nền móng; câu hỏi cái nào có trước, cái nào quyết định cái nào chính là điểm xuất phát của câu hỏi nền móng của mọi trường phái triết học.
Trong từng ngành khoa học, phạm trù là những khái niệm khung, biểu thị một loại sự vật hay một đặc trưng chung. Toán học có phạm trù số, điểm, đường. Ngôn ngữ học nói đến phạm trù ngữ pháp: phạm trù số (một hay nhiều), phạm trù giống, phạm trù thời. Tiếng Anh đánh dấu thời bằng đuôi động từ, còn tiếng Việt chủ yếu dùng hư từ đã, đang, sẽ.
Trong lời nói thường, phạm trù gần như đồng nghĩa với “loại”, “lĩnh vực”, có màu trang trọng:
- Chuyện ăn mặc ở nhà thuộc phạm trù sở thích cá nhân, nhà trường không nên can thiệp.
- Lòng biết ơn là một phạm trù đạo đức chứ không phải điều luật bắt buộc.
- Câu hỏi ấy đã vượt ra ngoài phạm trù môn Lịch sử.
Sáu cặp phạm trù trong giáo trình triết học
Sinh viên học triết học Mác – Lênin gặp phạm trù theo từng cặp, mỗi cặp là hai mặt đối lập nhưng không tách rời nhau:
| Cặp phạm trù | Ví dụ dễ hình dung |
|---|---|
| Cái riêng – cái chung | Mỗi bông hoa là cái riêng; “hoa” có nhụy, có cánh là cái chung |
| Nguyên nhân – kết quả | Mưa lớn kéo dài, đê vỡ, ruộng ngập |
| Tất nhiên – ngẫu nhiên | Hạt lúa gặp đủ nước sẽ nảy mầm; bị chim ăn mất là chuyện tình cờ |
| Nội dung – hình thức | Tư tưởng, câu chuyện của bài thơ và thể thơ, vần, nhịp chứa nó |
| Bản chất – hiện tượng | Cây bàng trút lá là hiện tượng; cây tự giảm mất nước khi trời lạnh, khô là bản chất |
| Khả năng – hiện thực | Hạt giống có thể thành cây; cây đã mọc là hiện thực |
Cặp thứ năm hay bị dùng lẫn trong lời nói thường; bài nghĩa chữ bản chất và cách tách nó khỏi hiện tượng có nhiều ví dụ đời sống hơn.
Cặp nguyên nhân và kết quả đi vào đời thường qua những cụm như nguyên nhân khách quan, rất hay gặp trong bản kiểm điểm.
Phạm trù, khái niệm, phạm vi: ba chữ dễ dùng lẫn
Ba từ này hay đứng gần nhau nên dễ bị dùng thay cho nhau, nhưng chúng không cùng tầng.
| Từ | Chỉ cái gì | Ví dụ |
|---|---|---|
| Khái niệm | Hình thức tư duy về một lớp sự vật bất kì, rộng hay hẹp đều được | “cây bàng”, “học sinh”, “thể thơ lục bát” |
| Phạm trù | Khái niệm rộng tới mức chạm vào những đặc trưng chung nhất | “vật chất”, “chất lượng”, “thời gian” |
| Phạm vi | Giới hạn, khoảng bao quát của một việc | “phạm vi kiến thức thi học kì” |
Mọi phạm trù đều là khái niệm, nhưng ít khái niệm được gọi là phạm trù. Chỗ khác nhau nằm ở độ rộng: phạm trù có nội hàm rất mỏng mà ngoại diên rất lớn. Hai thuật ngữ này được giảng kĩ trong bài nội hàm, ngoại diên của một khái niệm.
Từ gần nghĩa với phạm trù khi nói thường là loại, lĩnh vực, phương diện. Không có một từ trái nghĩa đúng nghĩa; muốn nói điều ngược lại thường phải dùng cụm “ngoài phạm trù”. Còn câu “chuyện đó nằm trong phạm vi đạo đức” nghe lệch hẳn: phạm vi đo độ rộng, không dùng để xếp loại.
Phạm trù trong giờ triết, giờ ngữ pháp và bàn trà
Phạm trù nghĩa là gì nếu giải thích cho học sinh?
Có thể hình dung phạm trù là “cái ngăn tủ lớn nhất” để xếp ý nghĩ. “Con mèo”, “cái bàn”, “dòng sông” là những khái niệm nằm trong ngăn tủ lớn tên là vật chất. Ngăn tủ lớn như thế gọi là phạm trù.
Phạm trù triết học là gì?
Đó là bộ khái niệm khung của môn triết, áp được cho mọi sự vật: thời gian, không gian, vận động, vật chất, ý thức. Trong giáo trình đại cương, chúng thường được học theo sáu cặp kể ở trên.
Thuộc phạm trù là gì?
“Thuộc phạm trù X” nghĩa là thuộc loại, thuộc lĩnh vực X. Câu “Đây là vấn đề thuộc phạm trù pháp luật” muốn nói vấn đề ấy phải xét bằng luật, không chỉ bằng tình cảm.
Phạm trù tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh dùng category. Khi nói về ngữ pháp, “phạm trù ngữ pháp” là grammatical category; trong toán học hiện đại còn có hẳn một ngành gọi là category theory, tiếng Việt dịch là lí thuyết phạm trù.
Viết “phạm trù” hay “phạm chù”?
Viết phạm trù, với “tr”. Chữ 疇 đọc là trù, cùng âm với trù trong trù mật; viết “chù” là do nói ngọng âm “tr” thành “ch”.