Văn Miếu Quốc Tử Giám là quần thể di tích ở trung tâm Hà Nội gồm hai phần gắn liền nhau: Văn Miếu, nơi thờ Khổng Tử và các bậc hiền nho, dựng năm 1070; và Quốc Tử Giám, nơi dạy học cấp cao nhất của triều đình, lập năm 1076. Tên gọi chính thức thường viết có gạch nối, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, và Quốc Tử Giám hay được nhắc đến như ngôi trường đại học sớm nhất nước ta.
| Nghĩa | Miếu thờ ông tổ đạo Nho (Văn Miếu) và nhà học của triều đình (Quốc Tử Giám) |
| Chữ Hán | 文廟 · 國子監 |
| Thời điểm | Văn Miếu: 1070, đời Lý Thánh Tông; Quốc Tử Giám: 1076, đời Lý Nhân Tông |
| Địa điểm | Phố Quốc Tử Giám, Hà Nội, phía nam kinh thành Thăng Long xưa |
| Nổi bật | Khuê Văn Các, giếng Thiên Quang, 82 bia tiến sĩ |

Văn Miếu Quốc Tử Giám nghĩa là gì?
Tên gọi này ghép từ hai cụm Hán Việt, mỗi cụm chỉ một chức năng.
Văn Miếu (文廟): văn là văn chương, học vấn, lễ giáo; miếu là nơi thờ tự. Văn Miếu vì thế là miếu thờ những người được coi là thầy của việc học, trước hết là Khổng Tử. Sử cũ chép rằng khi dựng Văn Miếu, nhà Lý cho đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối (bốn bậc đại hiền được thờ kèm), vẽ tượng bảy mươi hai người hiền, bốn mùa tế lễ, và hoàng thái tử đến đây học.
Quốc Tử Giám (國子監): quốc tử là con em nhà nước, ban đầu chỉ con vua và con các nhà đại quyền quý, vì trường mở ra trước hết cho họ; giám là tên gọi một cơ quan của triều đình, như Khâm thiên giám thời xưa. Có một chi tiết thú vị: chữ 監 này còn đọc là giam, như trong giam cầm. Cùng một mặt chữ, đọc giam thì là nhà tù, đọc giám thì là sở quan coi việc học.
Văn Miếu khác Quốc Tử Giám ở đâu?
Hai tên thường được đọc liền nên nhiều người tưởng là một. Thật ra mỗi phần có chức năng riêng, chỉ đứng sát nhau trong một khuôn viên.
| Tên | Là gì | Ghi chú |
|---|---|---|
| Văn Miếu | Nơi thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền đạo Nho | Là danh từ chung: nhiều nơi có văn miếu, như ở Huế, Bắc Ninh, Xích Đằng, Mao Điền, Trấn Biên |
| Quốc Tử Giám | Trường học cấp quốc gia của triều đình | Đời Trần đổi tên là Quốc Học viện; đời Nguyễn trường quốc gia dời vào Huế |
| Nhà Thái học | Khu giảng đường, nơi ở và học của giám sinh | Khu Thái Học hiện nay được dựng lại trên nền cũ của Quốc Tử Giám |
| Văn chỉ, văn từ | Nơi thờ đạo Nho ở cấp làng, cấp huyện | Quy mô nhỏ hơn nhiều, do làng hoặc huyện tự dựng |
Vậy khi nói “đi Văn Miếu” ở Hà Nội, người ta đang nói về cả quần thể. Còn khi đọc sử thấy “Văn miếu Huế” hay “Văn miếu Bắc Ninh”, đó là những ngôi miếu khác, cùng chức năng thờ Khổng Tử nhưng không gắn với Quốc Tử Giám ở Thăng Long.
Chín trăm năm của một ngôi trường
Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho dựng Văn Miếu. Sáu năm sau, năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám ngay bên cạnh, chọn các văn thần có học vấn vào dạy. Lúc đầu học trò chỉ là con nhà vua, nhà quan.
Năm 1253, vua Trần Thái Tông đổi tên thành Quốc Học viện và nhận cả con nhà thường dân học giỏi. Đời Trần Minh Tông, thầy Chu Văn An được cử làm Tư nghiệp, tức người đứng đầu việc dạy ở trường; sau khi ông mất, triều đình cho thờ ông ở Văn Miếu. Câu chuyện người thầy ấy được kể kĩ ở bài nghĩa chữ tôn sư trọng đạo và thầy Chu Văn An.
Thời Lê sơ, Nho học thịnh nhất. Năm 1484, vua Lê Thánh Tông cho dựng bia đá ghi danh người đỗ tiến sĩ, tính ngược lên đến khoa thi năm 1442. Mỗi khoa một tấm, đặt trên lưng rùa đá. Hiện còn 82 tấm bia, ứng với 82 khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779, ghi tên 1.304 vị tiến sĩ. Năm 2010, UNESCO ghi danh hồ sơ bia tiến sĩ Văn Miếu vào chương trình Ký ức thế giới; đây là kiểu di sản văn hóa vật thể và phi vật thể rất hiếm, vì mỗi tấm bia vừa là hiện vật vừa là một văn bản lịch sử.
Sang đầu thời Nguyễn, kinh đô chuyển vào Huế, Quốc Tử Giám cũng theo vào đó. Ngôi miếu ở Thăng Long lúc ấy chỉ còn là nơi thờ của một trấn phía bắc, rồi được dựng thêm gác Khuê Văn bên giếng Thiên Quang. Ngôi gác nhỏ tám mái ấy về sau thành hình ảnh quen thuộc của Hà Nội.
Một câu khắc trên bia đầu tiên
Tấm bia khoa Nhâm Tuất (1442) mang bài kí do Thân Nhân Trung soạn, trong đó có câu được nhắc nhiều nhất của cả vườn bia:
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.
Ý của câu là người tài đức là cái gốc sinh khí của đất nước; gốc ấy mạnh thì nước thịnh. Đoạn văn bia này được đưa vào sách Ngữ văn 10, và có riêng một bài giải thích câu hiền tài là nguyên khí và người viết ra nó.
Đứng trước các hàng bia, học trò thời nay hay chú ý đến những cái tên quen từ sách sử, như Ngô Sĩ Liên đỗ khoa 1442 hay Lê Quý Đôn. Một mẹo nhỏ khi đến xem: mỗi tấm bia khắc một khoa, nên năm thi ghi trên bia là năm khoa thi, không phải năm dựng bia.
Đến Văn Miếu Quốc Tử Giám, nên biết trước mấy điều này
Văn Miếu là gì, có phải chỉ Hà Nội mới có?
Văn Miếu là miếu thờ Khổng Tử và các bậc hiền nho. Đây là danh từ chung, nên ngoài Hà Nội còn có văn miếu ở Huế và nhiều tỉnh khác; nhỏ hơn nữa là văn chỉ ở làng.
Quốc Tử Giám là gì và ai được vào học?
Quốc Tử Giám là trường học cấp quốc gia của triều đình phong kiến. Thời Lý chỉ con vua, con quan được học; từ đời Trần, con nhà thường dân học giỏi cũng được nhận.
Văn Miếu Quốc Tử Giám thờ ai?
Khu điện thờ thờ Khổng Tử cùng các học trò và bậc tiên hiền của đạo Nho. Thầy Chu Văn An cũng được thờ ở đây từ đời Trần.
Văn Miếu Quốc Tử Giám ở đâu?
Ở trung tâm Hà Nội, cổng chính nhìn ra phố Quốc Tử Giám; bốn phía khu di tích đều là phố. Cả quần thể gồm hồ Văn, vườn Giám và khu nội tự có tường gạch bao quanh.
Vì sao gọi Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên?
Vì đây là trường học cao nhất do nhà nước lập ra, từ năm 1076, dạy cho người sẽ ra làm quan. Gọi “đại học” là cách so sánh cho dễ hình dung, vì nội dung học là kinh sách Nho giáo chứ không chia ngành như đại học hiện đại.