Văn xuôi là lối viết bằng những câu văn bình thường, nối nhau thành đoạn, không bị buộc phải có vần, số chữ hay luật bằng trắc như thơ. Truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, bài báo hay một lá đơn đều là văn xuôi. Hỏi “văn xuôi là gì, cho ví dụ” thì câu trả lời gần nhất nằm ngay trong sách Ngữ văn: Lão Hạc, Cô Tô, Cây tre Việt Nam.
| Khái niệm | Loại văn viết bằng câu thông thường, không cần vần điệu; phân biệt với thơ, văn vần |
| Thuộc | Cách phân chia văn bản theo hình thức ngôn từ (văn xuôi, văn vần, văn biền ngẫu) |
| Dấu hiệu nhận biết | Câu đủ thành phần, viết liền thành đoạn, nhịp tự do, không gieo vần bắt buộc |
| Tên gọi khác | Tản văn (theo nghĩa rộng), tiếng Anh là prose |
| Gặp trong SGK | Truyện, kí, tùy bút, văn bản nghị luận, văn bản thông tin từ lớp 6 đến lớp 12 |

Văn xuôi được định nghĩa ra sao?
Từ điển tiếng Việt (bản Soha Tra Từ, được Wiktionary dẫn lại) giải nghĩa văn xuôi là loại văn gồm các câu nói bình thường, không đòi hỏi vần điệu, dùng để phân biệt với thơ và văn vần. Định nghĩa ngắn, nhưng đủ hai ý quan trọng: đơn vị của văn xuôi là câu, và văn xuôi được hiểu trong thế đối lập với lời có vần.
Từ Hán Việt tương ứng là tản văn (散文). Cần để ý: trong sách Ngữ văn mới, “tản văn” còn là tên một thể loại riêng, gần với tùy bút, nên khi đọc đề cần xem người ta dùng chữ ấy theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp. Bài tản văn với tư cách một thể loại riêng giải thích kĩ chỗ này. Tiếng Anh gọi văn xuôi là prose, đối lập với verse (lời thơ có vần, có nhịp đều).
Wikipedia tiếng Việt nhắc một nhận xét đáng nhớ của nhà thơ T. S. Eliot: ranh giới giữa câu thơ và câu văn xuôi thì rõ, còn ranh giới giữa chất thơ và văn xuôi thì mờ hơn nhiều. Văn xuôi không có nghĩa là khô khan. Có những trang văn xuôi đọc lên vẫn thấy nhạc.
Nhìn vào đâu để biết một đoạn là văn xuôi
Khi đề bài hỏi “văn bản được viết theo hình thức nào”, học sinh có thể dựa vào bốn điểm sau.
- Cách trình bày. Văn xuôi chạy hết dòng rồi mới xuống, chia thành đoạn văn. Thơ thì xuống dòng theo câu thơ, dù dòng đó chưa hết chỗ.
- Không có luật về vần và số chữ. Một câu văn xuôi có thể dài ba chữ hay ba mươi chữ. Không ai đếm xem câu ấy có đúng sáu hay tám tiếng, cũng không cần tiếng cuối câu này hiệp vần với tiếng nào ở câu sau.
- Câu đủ thành phần ngữ pháp. Văn xuôi ưu tiên câu có chủ ngữ, vị ngữ rõ ràng, nối với nhau bằng quan hệ từ, phép liên kết. Thơ thì hay đảo trật tự, lược bớt thành phần để giữ nhịp.
- Nhịp do người viết tự tạo. Văn xuôi vẫn có nhịp, nhưng là nhịp của hơi văn, của dấu câu, của câu dài câu ngắn đan nhau, chứ không phải nhịp cố định 2/2/2 hay 4/3.
Dấu hiệu thứ tư giải thích vì sao có những bài văn xuôi rất giàu nhạc điệu mà vẫn là văn xuôi: chúng không theo một khuôn luật nào cả.
Văn xuôi gồm những loại nào
Có thể chia văn xuôi thành hai nhóm lớn tùy mục đích viết.
| Nhóm | Gồm những gì | Ví dụ quen thuộc |
|---|---|---|
| Văn xuôi nghệ thuật | Truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện đồng thoại, kí, tùy bút, tản văn, hồi kí | Lão Hạc, Bài học đường đời đầu tiên, Cô Tô, Cây tre Việt Nam |
| Văn xuôi thông dụng | Văn bản nghị luận, văn bản thông tin, tin báo, đơn từ, biên bản | Bài xã luận, văn bản hướng dẫn, đơn xin nghỉ học |
Ở thời trung đại, văn xuôi tự sự của người Việt chủ yếu viết bằng chữ Hán, với các truyện truyền kì và tiểu thuyết chương hồi. Phải sang đầu thế kỉ XX, văn xuôi chữ quốc ngữ mới phát triển mạnh, mở đường cho truyện ngắn và thể loại tiểu thuyết hiện đại sau này.
Kịch là trường hợp đặc biệt. Phần lớn kịch hiện đại viết lời thoại bằng văn xuôi, nhưng cũng có kịch thơ, nơi nhân vật nói với nhau bằng những câu thơ có vần.
Ba trang văn xuôi quen thuộc trong sách Ngữ văn
Cùng là văn xuôi, nhưng mỗi tác phẩm dưới đây cho thấy một kiểu sức mạnh khác.
Lão Hạc: văn xuôi để kể và để nghĩ
Truyện ngắn của Nam Cao dẫn người đọc qua lời kể của ông giáo, xen giữa là những đoạn độc thoại nội tâm. Văn xuôi cho phép nhà văn kéo dài một dòng suy nghĩ, tự hỏi rồi tự trả lời, điều mà thơ có số chữ cố định khó làm được. Chính những đoạn suy ngẫm ấy giúp người đọc hiểu cái nhìn thương cảm của tác giả với người nông dân. Muốn ôn kĩ, xem phần hướng dẫn soạn truyện ngắn Lão Hạc.
Cô Tô: văn xuôi để vẽ cảnh
Bài kí của Nguyễn Tuân dùng câu văn dài, nhiều tính từ chỉ màu sắc, nhiều so sánh bất ngờ để tả trời biển sau trận bão và cảnh mặt trời mọc trên biển. Câu văn xuôi ở đây giống những nét cọ: có chỗ kéo dài, có chỗ dừng lại rất gọn. Các câu hỏi trong bài soạn bài kí Cô Tô của Nguyễn Tuân xoay quanh đúng cách tả này.
Cây tre Việt Nam: văn xuôi mà như có nhạc
Thép Mới viết bằng văn xuôi, nhưng dùng nhiều điệp ngữ, nhiều câu ngắn sóng đôi, nhiều hình ảnh nhân hóa cây tre. Đọc to lên, đoạn văn có nhịp như một bài hát. Đây là ví dụ rõ nhất cho thấy văn xuôi không cần vần mà vẫn giàu nhạc điệu, nhờ nhịp câu do tác giả tự tạo. Bài soạn Cây tre Việt Nam của Thép Mới có phân tích các biện pháp ấy.
Văn xuôi, văn vần và văn biền ngẫu khác nhau ở đâu?
Thử đặt hai câu lục bát mở đầu Truyện Kiều cạnh một câu văn xuôi diễn lại cùng ý:
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Viết thành văn xuôi, ta có thể nói: “Trong một đời người, tài năng và số phận dường như luôn đối nghịch với nhau.” Ý gần như giữ nguyên, nhưng vần “ta – là” biến mất, nhịp 6–8 cũng không còn. Câu văn xuôi rõ nghĩa hơn, còn câu thơ dễ thuộc và ngân vang hơn.
| Tiêu chí | Văn xuôi | Văn vần (thơ) | Văn biền ngẫu |
|---|---|---|---|
| Vần | Không bắt buộc | Có vần theo luật của thể thơ | Có thể có hoặc không |
| Số chữ, nhịp | Tự do | Theo thể: lục bát, bảy chữ, tám chữ… | Các vế câu sóng đôi, cân xứng |
| Trình bày | Viết liền thành đoạn | Mỗi câu thơ một dòng | Từng cặp câu đối nhau |
| Ví dụ | Lão Hạc, Cô Tô | Truyện Kiều, Thu điếu | Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo |
Văn biền ngẫu là lối văn cổ có các vế đối nhau từng cặp, nằm ở giữa văn xuôi và thơ. Các bài hịch, cáo thời trung đại thường viết theo lối này, như trong bài soạn Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn. Còn thơ, với vần và nhịp theo luật, được trình bày trong bài đặc trưng của thơ và các loại thơ.
Thêm một trường hợp lai: thơ văn xuôi. Đó là thơ nhưng viết thành câu văn xuôi, thường không phân dòng, không theo niêm luật, chỉ giữ lại cảm xúc dồn nén và hình ảnh của thơ.
Luyện tập nhận biết văn xuôi
Câu 1: Trong các tác phẩm sau, tác phẩm nào viết bằng văn xuôi: Truyện Kiều, Lão Hạc, Thu điếu, Cô Tô, Hịch tướng sĩ?
Đáp án: Lão Hạc (truyện ngắn) và Cô Tô (kí) là văn xuôi. Truyện Kiều và Thu điếu là thơ. Hịch tướng sĩ viết theo lối văn biền ngẫu, không xếp vào văn xuôi thông thường.
Câu 2: Viết lại hai câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” thành một câu văn xuôi.
Đáp án tham khảo: “Công ơn của cha to lớn như ngọn núi cao, còn tình nghĩa của mẹ dạt dào như dòng nước chảy ra từ nguồn không bao giờ cạn.” Câu văn xuôi mất vần “sơn – nguồn” và nhịp lục bát, đổi lại được giải thích rõ hơn.
Câu 3: Vì sao “Cây tre Việt Nam” giàu nhạc điệu mà vẫn được xếp vào văn xuôi?
Đáp án: Vì bài viết không theo luật vần, không giới hạn số chữ, câu chữ trình bày thành đoạn. Nhạc điệu đến từ điệp ngữ, câu ngắn sóng đôi và cách ngắt nhịp do tác giả tự chọn, chứ không đến từ một thể thơ nào.
Câu 4: Đơn xin nghỉ học có phải là văn xuôi không? Giải thích.
Đáp án: Có. Đơn từ viết bằng câu thông thường, không gieo vần, nên thuộc văn xuôi. Đó là văn xuôi thông dụng, khác với văn xuôi nghệ thuật như truyện hay kí ở chỗ nó nhằm truyền đạt thông tin, đề nghị, chứ không nhằm tạo hình tượng.
Băn khoăn thường gặp về văn xuôi
Văn xuôi là gì, cho ví dụ dễ nhớ?
Văn xuôi là văn viết bằng câu bình thường, không cần vần. Ví dụ dễ nhớ nhất là bất kì truyện ngắn nào trong sách, như Lão Hạc, hay chính bài văn tả cảnh em viết trong giờ làm văn.
Thơ văn xuôi là gì, có phải văn xuôi không?
Thơ văn xuôi vẫn được xếp vào thơ. Nó mượn hình thức câu văn xuôi, không phân dòng và không theo niêm luật, nhưng giữ lối nói giàu hình ảnh, cảm xúc dồn nén của thơ.
Tác phẩm văn xuôi là gì?
Đó là tác phẩm văn học được viết bằng văn xuôi: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, tùy bút, tản văn, truyện đồng thoại. Khi đề hỏi “tác phẩm văn xuôi”, thường người ra đề muốn loại trừ thơ và kịch thơ.
Văn xuôi tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh gọi là prose. Từ đối lập là verse (lời thơ có vần, có nhịp) và poetry (thơ ca nói chung).