Lí luận văn học là một nhánh của ngành nghiên cứu văn học, chuyên xem xét văn học ở tầm khái quát để tìm ra những quy luật chung: văn học từ đâu mà có, dùng để làm gì, một tác phẩm được cấu tạo ra sao, có những thể loại nào. Lý luận văn học (viết “lí” hay “lý” đều được chấp nhận) là nền khái niệm để học sinh đọc hiểu và viết nghị luận văn học.
| Khái niệm | Bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện lí thuyết, tìm quy luật chung |
| Thuộc | Khoa nghiên cứu văn học, cùng lịch sử văn học và phê bình văn học |
| Bàn về | Bản chất, chức năng, tác phẩm, thể loại, quá trình và tiếp nhận văn học |
| Dấu hiệu nhận biết | Câu hỏi khái quát, không bó vào một tác phẩm; dùng thuật ngữ |

Lí luận văn học nghiên cứu cái gì?
Đọc một bài thơ, ta có thể hỏi: bài này hay ở đâu? Đó là câu hỏi của người phê bình. Ta cũng có thể hỏi: bài này ra đời trong hoàn cảnh nào, đứng ở đâu trong dòng thơ cùng thời? Đó là câu hỏi của người viết lịch sử văn học. Còn khi hỏi “vì sao con người cần thơ”, “một bài thơ gồm những yếu tố nào”, câu hỏi đã vượt ra ngoài một bài cụ thể. Những câu hỏi kiểu ấy là đất của lí luận văn học.
Các bách khoa thư và tài liệu bồi dưỡng giáo viên đều thống nhất ở hai điểm: lí luận văn học đứng ở tầng lí thuyết, và mục đích của nó là rút ra những quy luật đúng với văn học nói chung. Nó được xếp cạnh lịch sử văn học và phê bình văn học thành ba bộ môn chính của khoa nghiên cứu văn học. Nhờ lí luận, những khái niệm học sinh dùng hằng ngày như đề tài, chủ đề, nhân vật, phong cách mới có định nghĩa thống nhất.
Lí luận văn học có lịch sử rất dài. Ở phương Tây, người ta hay nhắc tới Aristotle với cuốn Thi học (Poetics) thời Hi Lạp cổ đại; ở phương Đông, những lời bàn về thơ của Khổng Tử thường được xem là dấu mốc sớm. Văn học thay đổi qua từng thời, nên lí luận cũng liên tục có trường phái mới, có khi bổ sung, có khi phủ định nhau.
Năm nhóm vấn đề của lí luận văn học
Giáo trình đại học chia nội dung theo nhiều cách, nhưng thường gom về mấy nhóm sau.
| Nhóm vấn đề | Câu hỏi tiêu biểu | Khái niệm học sinh gặp |
|---|---|---|
| Bản chất và nguồn gốc | Văn học từ đâu mà có, phản ánh cái gì? | Hiện thực, hình tượng, hư cấu |
| Chức năng | Văn học dùng để làm gì? | Nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ |
| Tác phẩm | Một tác phẩm được cấu tạo ra sao? | Đề tài, chủ đề, nhân vật, kết cấu, ngôn từ |
| Thể loại | Có những loại tác phẩm nào, mỗi loại có đặc trưng gì? | Tự sự, trữ tình, kịch; truyện, thơ, kí |
| Quá trình và tiếp nhận | Văn học vận động qua các thời thế nào, người đọc tiếp nhận ra sao? | Trào lưu, phong cách, người đọc |
Ví dụ, khi sách Ngữ văn đề nghị nhận ra phong cách nghệ thuật của một nhà văn, học sinh đang dùng một khái niệm thuộc nhóm cuối. Khi trả lời “văn học là gì”, học sinh đang chạm vào nhóm đầu; bài văn học là gì và đặc trưng của văn học đi sâu hơn ở phần này.
Khi nào một vấn đề thuộc về lí luận?
Có ba dấu hiệu dễ nhận ra:
- Tính khái quát. Vấn đề không bó vào một tác phẩm mà đúng cho nhiều tác phẩm, nhiều thời. “Nhân vật Chí Phèo có bi kịch gì” là câu hỏi phân tích; “nhân vật văn học có vai trò gì trong truyện” là câu hỏi lí luận.
- Dùng thuật ngữ. Câu chữ thường xoay quanh các khái niệm như hình tượng, điển hình, chủ đề, phong cách, tiếp nhận.
- Hướng tới quy luật. Lí luận muốn trả lời “thường thì thế nào, vì sao như vậy”, chứ không dừng ở “bài này ra sao”.
Ở bậc phổ thông, các dấu hiệu này hiện rõ nhất trong đề nghị luận văn học dạng bàn về một ý kiến: đề đưa ra một câu nói về văn chương nói chung, rồi yêu cầu chứng minh bằng một hoặc vài tác phẩm. Phần giải thích câu nói đòi hỏi kiến thức lí luận; phần chứng minh lại cần năng lực phân tích tác phẩm.
Lí luận văn học trong các văn bản của sách Ngữ văn
Học sinh không đợi lên đại học mới gặp lí luận văn học. Một số văn bản nghị luận trong sách giáo khoa chính là những bài lí luận viết bằng giọng gần gũi.
Ý nghĩa văn chương của Hoài Thanh
Bài viết mở đầu bằng chuyện một thi sĩ Ấn Độ khóc khi thấy con chim bị thương, rồi đi tới kết luận rằng nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người, rộng ra là thương muôn vật, muôn loài. Đây là câu trả lời cho một câu hỏi lí luận thuần túy: văn chương bắt nguồn từ đâu. Phần sau bàn tiếp công dụng của văn chương: gây cho ta những tình cảm chưa có, luyện những tình cảm sẵn có. Xem soạn bài Ý nghĩa văn chương để thấy các câu hỏi trong sách đi theo đúng hai ý này.
Tiếng nói của văn nghệ của Nguyễn Đình Thi
Văn bản này bàn về nội dung của văn nghệ (không chỉ ghi lại cái đã có mà còn là lời gửi, lời nhắn của nghệ sĩ) và lí do con người cần văn nghệ. Hai câu hỏi “văn nghệ phản ánh cái gì” và “văn nghệ cần cho đời sống ra sao” đều thuộc nhóm bản chất và chức năng. Bài soạn Tiếng nói của văn nghệ tóm các luận điểm của tác giả theo đúng trình tự ấy.
So hai văn bản sẽ thấy một điều thú vị: hai người viết ở hai thời khác nhau nhưng cùng tìm câu trả lời cho câu hỏi văn chương sinh ra từ đâu và để làm gì. Đó chính là tính “quy luật chung” mà lí luận văn học theo đuổi.
Lí luận, lịch sử và phê bình văn học
| Bộ môn | Làm gì | Ví dụ câu hỏi |
|---|---|---|
| Lí luận văn học | Khái quát quy luật chung, xây dựng khái niệm | Chủ đề của tác phẩm là gì, xác định bằng cách nào? |
| Lịch sử văn học | Nghiên cứu sự hình thành, phát triển của văn học qua các thời kì | Thơ mới ra đời trong hoàn cảnh nào? |
| Phê bình văn học | Phân tích, đánh giá các tác giả, tác phẩm cụ thể, nhất là tác phẩm mới | Tập thơ vừa xuất bản có gì đặc sắc? |
Ba bộ môn dựa vào nhau. Phê bình cần khái niệm của lí luận để có tiêu chí đánh giá; lí luận cần tư liệu của lịch sử văn học và những phát hiện của phê bình để khái quát. Một người có thể làm cả ba: nhà phê bình Hoài Thanh viết Thi nhân Việt Nam như một công trình phê bình, nhưng phần tiểu luận mở đầu lại có nhiều suy nghĩ mang tính lí luận về thơ.
Bài tập: phân biệt câu hỏi lí luận văn học
Câu 1: Các câu hỏi sau thuộc lí luận, lịch sử hay phê bình văn học? (a) Văn học có những chức năng nào? (b) Văn học Việt Nam giai đoạn 1930–1945 có những trào lưu nào? (c) Truyện ngắn mới đăng của một tác giả trẻ thành công ở điểm gì?
Đáp án: (a) thuộc lí luận văn học vì hỏi về quy luật chung của mọi tác phẩm. (b) thuộc lịch sử văn học vì gắn với một giai đoạn cụ thể. (c) thuộc phê bình văn học vì đánh giá một tác phẩm cụ thể, mới ra đời.
Câu 2: Vì sao văn bản Ý nghĩa văn chương được xem là bài viết mang tính lí luận?
Đáp án: Vì Hoài Thanh không phân tích riêng một tác phẩm nào mà bàn về văn chương nói chung: nguồn gốc (lòng thương người) và công dụng (gây và luyện tình cảm). Đó là những vấn đề khái quát, đúng với nhiều tác phẩm, nhiều thời.
Câu 3: Kể tên ba chức năng của văn học thường được nêu trong lí luận văn học và cho một ví dụ cho mỗi chức năng.
Đáp án tham khảo: Chức năng nhận thức: đọc Lão Hạc, người đọc hiểu thêm đời sống người nông dân trước Cách mạng. Chức năng giáo dục: truyện ngụ ngôn rút ra bài học ứng xử. Chức năng thẩm mĩ: một bài thơ tả cảnh thu giúp người đọc cảm được vẻ đẹp của thiên nhiên và ngôn từ.
Câu 4: Trong câu “Mỗi nhà văn lớn đều có một phong cách riêng”, khái niệm nào thuộc lí luận văn học? Hãy giải thích ngắn khái niệm đó.
Đáp án: Khái niệm “phong cách”. Phong cách là những nét riêng, ổn định, lặp lại trong sáng tác của một nhà văn, từ cách chọn đề tài, cách nhìn đời đến giọng điệu, ngôn ngữ, giúp người đọc nhận ra tác giả dù không cần đọc tên.
Chữ lí, chữ lý và chuyện bắt đầu đọc
Lý luận văn học là gì, viết lí hay lý mới đúng?
Lý luận văn học và lí luận văn học là cùng một khái niệm. Sách giáo khoa và nhiều giáo trình dùng “lí”, văn bản hành chính và báo chí hay dùng “lý”; cả hai cách viết đều được chấp nhận, chỉ cần thống nhất trong một bài.
Học sinh phổ thông có cần học lí luận văn học không?
Có, dù không học thành một môn riêng. Mỗi khi xác định chủ đề, nhận xét nhân vật hay nêu đặc điểm thể loại, học sinh đang dùng khái niệm lí luận. Hiểu đúng các khái niệm này giúp bài văn chặt chẽ hơn, nhất là ở dạng bàn về một ý kiến văn học.
Lí luận văn học nghiên cứu gì khác với phân tích tác phẩm?
Phân tích tác phẩm hỏi “bài này hay ở đâu”; lí luận văn học hỏi “vì sao một tác phẩm hay lại hay, theo những quy luật nào”. Phân tích đi vào cái riêng, lí luận đi tìm cái chung.
Nên bắt đầu đọc lí luận văn học từ đâu?
Với học sinh, nên bắt đầu từ chính các văn bản lí luận trong sách Ngữ văn như Ý nghĩa văn chương hay Tiếng nói của văn nghệ, rồi đến phần tri thức Ngữ văn ở đầu mỗi bài học, nơi các khái niệm được định nghĩa ngắn gọn.