Hư từ là những từ không gọi tên sự vật, hành động hay tính chất, mà chủ yếu mang nghĩa ngữ pháp: chỉ thời gian, mức độ, quan hệ giữa các từ, hoặc thái độ của người nói. Các chữ đã, đang, sẽ, rất, và, của, nhưng, nhé, à đều thuộc lớp này. Sách ngữ pháp còn gọi hư từ là từ hư hay từ công cụ, đặt đối lập với thực từ.
| Khái niệm | Từ không có chức năng gọi tên, không tự làm thành phần chính của câu, dùng để biểu thị quan hệ ngữ pháp và sắc thái |
| Nghĩa của chữ | Hư (虛) là rỗng, trống; từ (詞) là lời, chữ |
| Thuộc | Ngữ pháp, phần từ loại; đối lập với thực từ (danh, động, tính từ…) |
| Gồm | Phó từ, quan hệ từ, trợ từ, tình thái từ (thán từ thường được xét riêng) |
| Dấu hiệu nhận biết | Bỏ đi câu vẫn còn khung sự việc nhưng mất ý thời gian, quan hệ hoặc giọng điệu |

Hư từ: những chữ “rỗng” mà không thừa
Thử đọc câu “Mẹ nấu cơm”, rồi đọc “Mẹ đang nấu cơm cho cả nhà đấy“. Ba chữ thêm vào không chỉ thêm một người hay một vật nào. Chúng cho biết việc nấu đang diễn ra, nấu vì ai, và người nói muốn báo tin với chút giọng thân mật. Đó chính là việc của hư từ.
Mục từ hư từ trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học nêu ba ý: hư từ không gọi tên sự vật, không tự mình làm một thành phần của câu, và có nhiệm vụ chỉ ra quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ. Wiktionary tiếng Việt diễn đạt theo cách khác: đó là những từ không tiêu biểu cho sự vật hay hành động, như nếu, bèn, vậy. Hai cách nói gặp nhau ở một điểm: nghĩa của hư từ nằm trong quan hệ, chứ không nằm trong một hình ảnh cụ thể.
Tiếng Việt không chia động từ theo thì, không thêm đuôi số nhiều như tiếng Anh. Muốn nói “đã làm” hay “sẽ làm”, “những quyển sách” hay “một quyển sách”, ta nhờ vào trật tự từ và vào chính lớp hư từ này. Nếu thực từ là những viên gạch thì hư từ giống phần vữa và bản lề: ít ai để ý, nhưng thiếu là câu rời ra.
Chữ hư từ vốn có từ thời học chữ Hán. Các nhà nho gọi những chữ như 之 (chi), 乎 (hồ), 者 (giả), 也 (dã) là hư tự, tức chữ chỉ để nối, để hỏi, để kết câu. Dùng chúng dày đặc thì câu văn nghe rất “sách vở”, nên tiếng Việt mới có lối chê ai ăn nói cầu kì là chi hồ giả dã.
Đặt thực từ và hư từ cạnh nhau
| Tiêu chí | Thực từ | Hư từ |
|---|---|---|
| Nghĩa | Nghĩa từ vựng rõ: gọi tên người, vật, việc, tính chất | Chủ yếu là nghĩa ngữ pháp: thời gian, mức độ, quan hệ, thái độ |
| Làm thành phần câu | Làm được chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ… | Thường không tự làm thành phần chính, phải đi kèm từ khác |
| Số lượng | Rất nhiều, luôn có từ mới sinh ra | Ít, gần như khép kín, hiếm khi thêm từ mới |
| Ví dụ | sông, viết, xanh, ba, tôi | đã, rất, và, của, chính, nhé |
Ranh giới không phải lúc nào cũng sắc. Chữ cho trong “mẹ cho con cái kẹo” là động từ, còn trong “nấu cơm cho cả nhà” lại là quan hệ từ. Muốn biết một chữ là thực hay hư, phải nhìn nó đứng ở đâu và làm việc gì trong câu cụ thể. Bức tranh chung về các nhóm từ có ở bài phân chia từ loại trong tiếng Việt.
Ba phép thử để nhận ra hư từ
- Phép bỏ. Lược từ đó đi. Nếu câu vẫn giữ được người, vật, việc chính nhưng mất sắc thái thời gian, mức độ hay giọng điệu, rất có thể từ vừa bỏ là hư từ. “Nó đã về” thành “Nó về”: sự việc còn, nhưng không còn rõ là chuyện đã xảy ra.
- Phép hỏi. Thực từ trả lời được câu hỏi “ai, cái gì, làm gì, thế nào”. Không ai hỏi “cái gì?” mà nhận câu trả lời là “của” hay “nhé”.
- Phép tìm chỗ dựa. Hư từ hiếm khi đứng một mình làm câu trả lời. Nó bám vào một động từ, tính từ, một vế câu hay cuối câu: rất bám vào tính từ, và đứng giữa hai thành phần, à, nhỉ đứng cuối.
Thán từ như ôi, chao ôi, ừ là trường hợp đặc biệt. Chúng không gọi tên gì, nhưng lại tách ra làm được cả một câu đặc biệt (“Ôi!”), nên nhiều sách xếp riêng chứ không gộp hẳn vào hư từ.
Bốn nhóm hư từ học sinh hay gặp
| Nhóm | Làm gì | Ví dụ |
|---|---|---|
| Phó từ | Đi kèm động từ, tính từ để chỉ thời gian, mức độ, phủ định, cầu khiến, tiếp diễn | đã, đang, sẽ, rất, lắm, không, chưa, hãy, đừng, cũng, vẫn |
| Quan hệ từ | Nối từ với từ, vế với vế, cho biết quan hệ sở hữu, nhân quả, điều kiện, tương phản | và, với, của, nhưng, vì, nên, nếu, thì, tuy |
| Trợ từ | Nhấn mạnh hoặc đánh giá sự vật, sự việc được nói tới | chính, ngay, cả, những, có, đến |
| Tình thái từ | Tạo câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm; bộc lộ thái độ người nói | à, ư, nhỉ, nhé, chứ, đi, thay, sao |
Mỗi nhóm có bài riêng để đào sâu: phó từ đứng trước và sau động từ, các cặp quan hệ từ thường dùng, trợ từ dùng để nhấn mạnh và những từ tạo giọng hỏi, giọng cảm.
Một chữ có thể đổi nhóm theo câu. Các nhà nghiên cứu khảo sát chữ với cho thấy nó lúc làm quan hệ từ (“tôi với bạn”), lúc làm phụ từ sau động từ nói năng (“bảo với mẹ”), lúc là tiểu từ cuối câu (“chờ em với!”). Học hư từ vì thế là học cách nhìn vị trí, đừng học thuộc danh sách.
Hư từ làm việc trong thơ Nguyễn Khuyến và Hồ Xuân Hương
Thơ cổ ít chữ, nên mỗi hư từ đặt vào đều có lí do.
Chữ “thời” và chữ “với” trong Bạn đến chơi nhà
Đã bấy lâu nay, bác tới nhà,
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Chữ đã mở đầu bài thơ là phó từ chỉ thời gian, gợi khoảng cách dài từ lần gặp trước. Hai chữ thời (tức “thì”) là quan hệ từ, ngắt câu thành hai vế đều nhau, đọc lên như người chủ nhà đang kể lể, đếm từng cái thiếu. Đến câu kết “Bác đến chơi đây, ta với ta!”, chữ với nối hai chữ ta, mà hai chữ ta ấy là hai con người, khép lại cả bài trong một tình bạn đủ đầy. Bài văn bản và lời bình Bạn đến chơi nhà đọc kĩ hơn cả tám câu.
Cặp “vừa… lại vừa” trong Bánh trôi nước
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Cặp phó từ vừa… lại vừa cộng dồn hai vẻ đẹp, chữ lại làm câu thơ như được nói với chút tự hào. Sang câu sau, với là quan hệ từ, đặt thân phận “em” vào giữa nước non. Thay bằng chữ khác, chẳng hạn “trong”, câu thơ sẽ mất cái thế một mình đối diện với cả cuộc đời. Phần đọc hiểu đầy đủ có trong bài soạn Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương.
Luyện nhận diện hư từ qua năm câu
Câu 1: Tìm hư từ trong câu “Em đã làm xong bài tập nhưng chưa kịp ôn bài cũ.”
Đáp án: Có ba hư từ: đã và chưa là phó từ (chỉ thời gian, phủ định), nhưng là quan hệ từ chỉ quan hệ tương phản giữa hai vế.
Câu 2: Chữ “cho” trong hai câu sau là thực từ hay hư từ? (a) Bà cho cháu quả cam. (b) Cháu bóc cam cho bà.
Đáp án: Ở câu (a), cho là động từ, tức thực từ, chỉ hành động trao tặng. Ở câu (b), cho là quan hệ từ, chỉ người được hưởng việc làm. Cùng một chữ nhưng khác vai trò.
Câu 3: Xếp các từ sau vào nhóm phó từ, quan hệ từ, trợ từ, tình thái từ: rất, của, chính, nhé, sẽ, vì, những, à.
Đáp án: Phó từ: rất, sẽ. Quan hệ từ: của, vì. Trợ từ: chính, những. Tình thái từ: nhé, à. Lưu ý những còn có thể là lượng từ (“những quyển sách”); ở đây xét theo nghĩa nhấn mạnh như “ăn những ba bát”.
Câu 4: So sánh “Nó ăn ba bát cơm” với “Nó ăn những ba bát cơm”. Hư từ thêm vào có tác dụng gì?
Đáp án: Câu đầu chỉ báo số lượng. Câu sau có trợ từ những, cho thấy người nói thấy ba bát là nhiều, có ý ngạc nhiên hoặc chê. Sự việc không đổi, chỉ thái độ đổi.
Câu 5: Viết một câu có ít nhất một phó từ, một quan hệ từ và một tình thái từ, rồi chỉ ra từng từ.
Đáp án tham khảo: “Mai trời sẽ mưa nên cậu mang áo mưa nhé.” Sẽ là phó từ chỉ thời gian tương lai, nên là quan hệ từ chỉ kết quả, nhé là tình thái từ tạo giọng dặn dò thân mật.
Gặp đề đọc hiểu, cứ nhớ một chữ hư từ đặt sai có thể đổi hẳn ý câu: “anh chưa về” và “anh không về” chỉ khác một từ, mà một câu còn chờ, một câu thì thôi.
Hư từ khi làm bài, khi học ngoại ngữ
Hư từ gồm những loại nào?
Trong nhà trường, hư từ thường gồm phó từ, quan hệ từ, trợ từ và tình thái từ. Thán từ có lúc được xếp chung, có lúc tách riêng vì nó tự làm được câu. Các sách ngữ pháp không hoàn toàn thống nhất, nên khi làm bài nên theo cách gọi của sách giáo khoa mình đang học.
Hư từ và thực từ khác nhau ở điểm nào?
Thực từ gọi tên người, vật, hoạt động, tính chất và làm được thành phần chính của câu. Hư từ không gọi tên gì, chỉ chỉ ra quan hệ hoặc sắc thái, và luôn cần một từ khác để dựa vào.
Hư từ có nghĩa không, hay chỉ để nối?
Có nghĩa, nhưng là nghĩa ngữ pháp. Đã mang nghĩa “trước thời điểm nói”, vì mang nghĩa “nguyên nhân”. Thứ nghĩa ấy không vẽ được thành hình, nên mới bị gọi là “hư”.
Hư từ trong tiếng Trung là gì?
Tiếng Trung gọi là 虚词 (hư từ), đối lập với 实词 (thực từ), gồm phó từ, giới từ, liên từ, trợ từ, thán từ. Tiếng Anh dùng các tên function word hay grammatical word cho nhóm tương tự, như the, of, and.