Quan hệ từ là từ đứng giữa hai từ ngữ, hai vế câu hoặc hai câu để gắn chúng lại, đồng thời cho biết giữa chúng có quan hệ gì: sở hữu, nguyên nhân, điều kiện, tương phản… Ví dụ: và, với, của, nhưng, vì… nên, nếu… thì. Sách Tiếng Việt 5 mới gọi nhóm từ này là kết từ; ở quan hệ từ lớp 5 sách cũ và lớp 7, tên gọi vẫn là quan hệ từ.
| Khái niệm | Từ nối các bộ phận của câu hoặc các câu, biểu thị quan hệ ý nghĩa giữa chúng |
| Tên khác | Kết từ (Tiếng Việt 5 sách mới, Từ điển tiếng Việt Hoàng Phê) |
| Thuộc | Hư từ: không gọi tên sự vật, hoạt động, không tự làm chủ ngữ, vị ngữ |
| Dấu hiệu nhận biết | Đứng giữa hai thành phần; bỏ đi thì quan hệ giữa chúng mờ hoặc sai |

Quan hệ từ và kết từ: một khái niệm, hai cách gọi
Ở chương trình cũ, học sinh gặp thuật ngữ này hai lần: phần Luyện từ và câu lớp 5 và bài “Quan hệ từ” trong Ngữ văn 7. Hai nơi định nghĩa gần như nhau: đây là loại từ làm cầu nối, và qua việc nối, nó cho thấy hai phần được nối liên hệ với nhau ra sao.
Khi chuyển sang chương trình 2018, các bộ Tiếng Việt 5 (Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo, Cánh diều) dùng tên kết từ. Phần ghi nhớ của sách Chân trời sáng tạo lớp 5 mô tả kết từ y như cách hiểu cũ: một từ làm cầu nối và chỉ ra quan hệ giữa hai phần được nối. Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) cũng dùng chữ “kết từ” cho loại từ chuyên biểu thị quan hệ cú pháp, nối các thành phần trong câu. Vậy khi gặp câu hỏi kết từ là gì, có thể hiểu đó chính là quan hệ từ.
Đi thi thì gọi theo sách đang học. Đề lớp 5 sách mới hỏi “kết từ”, đừng trả lời bằng chữ “quan hệ từ” làm giáo viên phải đoán.
Ba dấu hiệu để nhận ra một quan hệ từ
- Có hai vế để nối. Quan hệ từ luôn nằm giữa (hoặc mở đầu) một trong hai thành phần được nối: “sách của em”, “trời mưa nhưng vẫn nóng”. Thiếu vế bên kia, nó không còn việc gì để làm.
- Không tự gọi tên gì. Hỏi “của là cái gì?”, “nhưng là hành động nào?” đều không trả lời được. Nghĩa của nó chỉ hiện ra khi đặt giữa hai thành phần.
- Bỏ đi thì quan hệ đổi. “Em đi học với bạn” khác hẳn “Em đi học bạn”. “Mẹ mua cho em” khác “Mẹ mua em”. Có quan hệ từ, người đọc biết ai làm gì cho ai.
Có những chữ lúc là quan hệ từ, lúc không. “Cuốn sách của Lan” thì của là quan hệ từ chỉ sở hữu; “Nhà ấy lắm của” thì của là danh từ, nghĩa là tài sản. Phải xem nó có đang nối hai thành phần hay không.
Bảng quan hệ từ theo ý nghĩa
Có quan hệ từ dùng đơn lẻ, có loại đi thành cặp. Bảng dưới gom các từ hay gặp trong bài học và đề kiểm tra.
| Quan hệ ý nghĩa | Quan hệ từ đơn | Cặp quan hệ từ | Câu ví dụ |
|---|---|---|---|
| Bổ sung, liệt kê | và, với, cùng | vừa… vừa… | Lan và Hoa cùng trực nhật. |
| Lựa chọn | hay, hoặc | hoặc… hoặc… | Em uống trà hay sữa? |
| Sở hữu | của | — | Mũ của anh để trên bàn. |
| Phương tiện, nơi chốn | bằng, ở, tại | — | Cái cốc làm bằng tre. |
| Mục đích | để, cho | — | Bố dậy sớm để tập thể dục. |
| Nguyên nhân – kết quả | vì, do, nhờ, nên | vì… nên…, nhờ… mà… | Vì ôn kĩ nên Nam làm bài tốt. |
| Điều kiện, giả thiết – kết quả | nếu, hễ, giá | nếu… thì…, hễ… là… | Nếu mai nắng thì cả lớp đi dã ngoại. |
| Tương phản | nhưng, mà, còn | tuy… nhưng…, mặc dù… nhưng… | Tuy mệt nhưng chị vẫn nấu cơm. |
| Tăng tiến | — | không những… mà còn…, càng… càng… | Trời càng về khuya càng lạnh. |
Lưu ý chữ mà: nó có thể chỉ tương phản (“ngon mà rẻ”), chỉ mục đích (“mua sách mà đọc”) hoặc đi trong cặp nhân quả “nhờ… mà…”. Đọc cả câu mới biết nó đang nối theo nghĩa nào.
Cặp quan hệ từ trong câu ghép
Khi hai vế đều có chủ ngữ, vị ngữ riêng, quan hệ từ trở thành chiếc khóa nối hai vế của câu ghép và các cách nối vế. Cặp quan hệ từ còn cho biết ngay vế nào là nguyên nhân, vế nào là kết quả.
- Vì đường trơn nên xe đi chậm. (nhân – quả)
- Nếu em chăm đọc thì vốn từ sẽ rộng ra. (điều kiện – kết quả)
- Tuy nhà xa nhưng Minh chưa bao giờ đi muộn. (tương phản)
- Cô giáo không những giảng hay mà còn rất kiên nhẫn. (tăng tiến)
Đôi khi người viết lược bớt một nửa cặp: “Đường trơn nên xe đi chậm.” Câu vẫn đúng. Ngược lại, đảo vế cũng được, chỉ cần giữ đúng chữ đi kèm từng vế: “Xe đi chậm vì đường trơn.” Sách Tiếng Việt 5 mới có nhiều bài thực hành dạng này, chẳng hạn ở bài Giỏ hoa tháng Năm sách Kết nối và phần Luyện từ và câu của bài Về ngôi nhà đang xây lớp 5.
Bốn lỗi dùng quan hệ từ hay gặp trong bài viết
Ngữ văn 7 cũ có hẳn một bài “Chữa lỗi về quan hệ từ”. Các lỗi trong đó vẫn xuất hiện đều đặn ở bài văn học sinh.
| Lỗi | Câu sai | Sửa lại |
|---|---|---|
| Thiếu quan hệ từ | Em làm việc này mẹ. | Em làm việc này cho mẹ. |
| Dùng sai nghĩa | Bạn ấy học giỏi và hơi nóng tính. | Bạn ấy học giỏi nhưng hơi nóng tính. |
| Thừa, làm mất chủ ngữ | Qua câu chuyện đã cho em hiểu lòng mẹ. | Câu chuyện đã cho em hiểu lòng mẹ. |
| Ghép sai cặp | Tuy trời lạnh nên em vẫn đi bơi. | Tuy trời lạnh nhưng em vẫn đi bơi. |
Lỗi thứ ba khó thấy nhất. Câu đọc lên trơn tru, nhưng hỏi “ai cho em hiểu?” thì không có chủ ngữ, vì “câu chuyện” đã bị chữ qua biến thành trạng ngữ. Cách sửa: bỏ qua, hoặc giữ qua và thêm chủ ngữ mới (“Qua câu chuyện, em hiểu lòng mẹ”).
Một câu chồng ba bốn chữ và cũng là lỗi hay gặp; cách gỡ bằng dấu phẩy, chữ rồi, chữ cùng có trong bài những chữ thay được cho và.
Riêng câu mở bằng qua đó rất hay mất chủ ngữ; cách sửa và những cụm thay được cho nó nằm trong bài đồng nghĩa, trái nghĩa với qua đó.
Chữ “với” của Nguyễn Khuyến, chữ “mà” của Hồ Xuân Hương
Bài thơ Bạn đến chơi nhà kể một chuỗi thiếu thốn: chợ xa, trẻ đi vắng, ao sâu, vườn rộng, cải chưa ra cây, trầu không có. Rồi câu cuối khép lại:
Bác đến chơi đây, ta với ta!
Chữ với là quan hệ từ chỉ sự đi cùng, nối “ta” và “ta”. Bỏ nó đi, câu không đứng được. Giữ nó lại, hai người bạn già đặt ngang nhau, không cần mâm cỗ hay miếng trầu làm trung gian. Một hư từ nhỏ gánh cả ý thơ.
Ở Bánh trôi nước, hai câu cuối dựa trên một cặp quan hệ từ tương phản:
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Mặc dầu (tức “mặc dù”) nêu điều bất lợi, mà mở ra điều trái ngược: số phận bị người khác nhào nặn, tấm lòng thì không đổi. Thay mà bằng và, câu thơ mất ngay cái thế đứng thẳng. Đọc thêm phần phân tích ở bài tìm hiểu Bánh trôi nước lớp 7.
Bài tập quan hệ từ có lời giải
Câu 1: Tìm quan hệ từ và cho biết ý nghĩa: “Chiếc áo của bà đã cũ nhưng bà vẫn giữ gìn cẩn thận.”
Đáp án: của chỉ quan hệ sở hữu (áo thuộc về bà); nhưng chỉ quan hệ tương phản giữa hai vế “áo đã cũ” và “bà vẫn giữ gìn”.
Câu 2: Điền cặp quan hệ từ thích hợp: “… em chăm luyện viết … chữ em đẹp hơn hẳn.”
Đáp án: “Nhờ em chăm luyện viết mà chữ em đẹp hơn hẳn.” Cũng chấp nhận “Vì… nên…”. Cặp “nhờ… mà…” hợp hơn vì kết quả là điều tốt.
Câu 3: Câu sau mắc lỗi gì? Sửa lại: “Với đôi tay khéo léo đã giúp mẹ đan xong chiếc khăn.”
Đáp án: Thừa quan hệ từ với nên câu thiếu chủ ngữ. Sửa: “Đôi tay khéo léo đã giúp mẹ đan xong chiếc khăn.” hoặc “Với đôi tay khéo léo, mẹ đã đan xong chiếc khăn.”
Câu 4: Chữ “của” ở câu nào là quan hệ từ? a) Bạn ấy tiếc của nên không dám mua. b) Bức tranh của Minh được treo ở lớp.
Đáp án: Câu b. Ở đó của nối “bức tranh” với “Minh”, chỉ sở hữu. Ở câu a, của là danh từ, nghĩa là tiền bạc, tài sản.
Học sinh lớp 5, lớp 7 thường hỏi gì về quan hệ từ
Quan hệ từ lớp 5 học những gì?
Học sinh lớp 5 học nhận ra quan hệ từ trong câu, biết nghĩa của các từ hay dùng (và, nhưng, của, để…) và dùng cặp quan hệ từ nối các vế câu ghép. Sách mới gọi là kết từ, nội dung tương tự.
Kết từ là gì, có khác quan hệ từ không?
Kết từ là tên gọi trong sách Tiếng Việt 5 mới và trong Từ điển tiếng Việt Hoàng Phê. Nó chỉ cùng một loại từ với quan hệ từ, chỉ khác tên. Bài ôn tập có nhiều câu hỏi về kết từ, chẳng hạn đề ôn cuối kì I lớp 5 bộ Cánh diều.
Cặp quan hệ từ là gì?
Đó là hai quan hệ từ dùng theo bộ, mỗi chữ đứng đầu một vế, như vì… nên, nếu… thì, tuy… nhưng, không những… mà còn. Cặp này làm quan hệ giữa hai vế rõ hơn so với dùng một từ.
Quan hệ từ có làm chủ ngữ được không?
Không. Đây là hư từ, việc duy nhất của nó là nối. Khi một chữ như của tự đứng làm thành phần chính, nó đã chuyển sang loại từ khác.