Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ là đề Viết lớp 9 mà bộ sách nào cũng có: Bài 7 Hồn thơ muôn điệu (tập hai) sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, Bài 1 Thương nhớ quê hương (tập một) sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo và Bài 7 Thơ tám chữ và thơ tự do (tập hai) sách Ngữ văn 9 Cánh diều. Dưới đây là yêu cầu của kiểu bài trong từng sách, một dàn ý dùng chung và 12 đoạn văn mẫu viết về bảy bài thơ tám chữ: Quê hương, Tiếng Việt, Nhớ rừng, Chiều xuân, Tựu trường, Chợ Tết, Tổ quốc nhìn từ biển. Có đoạn ngắn để làm bài kiểm tra 15 phút, có đoạn dài đi sâu vào vần, nhịp và hình ảnh, cuối trang là những lỗi hay gặp khi viết.

Yêu cầu của kiểu bài đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ tám chữ
Thơ tám chữ là thể thơ mỗi dòng có tám tiếng; một vài dòng có thể co giãn thêm bớt một tiếng nhưng phần lớn bài vẫn giữ đúng tám tiếng. Câu thơ thường ngắt nhịp 3/5, 3/2/3 hoặc 4/4; vần thường đặt ở tiếng cuối dòng, gieo liền từng cặp, gieo cách hoặc gieo ôm; số dòng và số khổ không hạn định. Vì dòng thơ dài, thể thơ này hợp với giọng kể, giọng tâm tình và những cảm xúc trào dâng. Viết đoạn văn về một bài thơ tám chữ, em không tóm tắt lại bài thơ mà nói rõ điều gì trong bài làm em xúc động hay suy nghĩ, chỉ ra điều đó nằm ở câu thơ, hình ảnh, từ ngữ nào và vì sao em có cảm nghĩ ấy.
| Tiêu chí | Đoạn văn đạt khi |
|---|---|
| Mở đoạn | Câu đầu đoạn cho biết em viết về bài thơ nào, của ai, em thấy gì ở nó trước tiên. Câu dẫn có thể là một trải nghiệm, một câu hỏi hay chính hình ảnh em thích nhất. |
| Nội dung | Nêu cảm nghĩ về mạch cảm xúc, chủ đề hoặc thông điệp của bài; chọn một hai điểm nổi bật để nói kĩ thay vì điểm qua mọi khổ. |
| Nghệ thuật | Chỉ ra một vài nét hình thức (cách dùng từ, hình ảnh, phép tu từ, vần, cách ngắt nhịp) cùng tác dụng của chúng với nội dung. |
| Thể thơ tám chữ | Nói được thể thơ góp phần gì cho bài thơ: dòng dài chứa trọn một cảnh, nhịp chậm hay dồn dập, vần liền nối mạch cảm xúc… Tránh câu khen chung chung mà không gắn với dòng thơ nào. |
| Dẫn chứng | Trích câu thơ đúng nguyên văn trong ngoặc kép, trích ngắn; không chép nguyên khổ. |
| Kết đoạn | Gói lại cảm nghĩ, hoặc cho biết bài thơ có ý nghĩa gì với riêng em; tránh chép lại câu mở. |
| Hình thức | Chỉ một đoạn, viết liền, xưng tôi hoặc em, câu văn liên kết bằng phép lặp, phép thế, phép nối; viết hoa lùi đầu dòng ở câu mở đoạn. |
| Bộ sách | Vị trí | Điểm cần lưu ý |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tập 2, Bài 7 Hồn thơ muôn điệu (trang 60) | Đoạn văn cần ba ý: giới thiệu bài thơ kèm ấn tượng ban đầu; cảm nghĩ về điều bài thơ nói và cách nó nói, có nhắc thể thơ tám chữ đem lại gì cho bài; lời khái quát cuối đoạn. Bài viết tham khảo trong sách bàn về bài thơ Tiếng Việt của Lưu Quang Vũ, văn bản đọc của chính Bài 7. |
| Chân trời sáng tạo | Tập 1, Bài 1 Thương nhớ quê hương (trang 25) | Đề cho tự chọn một bài thơ tám chữ yêu thích. Sách cho học sinh đọc một đoạn văn tham khảo viết về bài thơ Tựu trường của Huy Cận, rồi tìm câu mở, câu khép đoạn, ngôi xưng và các phép liên kết. Văn bản đọc cùng bài có Quê hương (Tế Hanh). |
| Cánh diều | Tập 2, Bài 7 Thơ tám chữ và thơ tự do (trang 48) | Bài tập yêu cầu viết về một điểm duy nhất, thuộc nội dung hay nghệ thuật, mà em thấy hay nhất ở bài thơ Chiều xuân của Anh Thơ. Sách nhấn mạnh cách biểu cảm trực tiếp và gián tiếp, nên kết hợp cả hai. Văn bản đọc của bài có Quê hương (Tế Hanh). |
Cách nhận ra bài thơ tám chữ khi tự chọn: đếm số tiếng ở năm, sáu dòng bất kì. Nếu gần như dòng nào cũng tám tiếng thì yên tâm. Nếu bài xen nhiều dòng bảy, chín tiếng hoặc có dòng rất ngắn, nhiều sách xếp nó vào thơ tự do, em nên hỏi lại thầy cô trước khi chọn.
Dàn ý đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ
1. Mở đoạn
– Nhan đề và tác giả của bài thơ.
– Một câu nói ấn tượng đầu tiên của em (bài thơ khiến em xúc động, tự hào, thấy gần gũi hay day dứt vì điều gì).
2. Thân đoạn
– Cảm nghĩ về nội dung: mạch cảm xúc, hình ảnh trung tâm, thông điệp của bài.
– Cảm nghĩ về nghệ thuật: một hai câu thơ, hình ảnh, từ ngữ hoặc biện pháp tu từ đặc sắc, kèm dẫn chứng ngắn và tác dụng.
– Vai trò của thể thơ tám chữ: dòng thơ dài, nhịp, cách gieo vần góp phần thể hiện cảm xúc ra sao.
– (Nếu có) liên hệ chuyện của chính mình để đoạn văn có giọng riêng.
3. Kết đoạn
– Khái quát lại cảm nghĩ về bài thơ.
– Bài thơ đã thay đổi em ở đâu: một cách nhìn, một tình cảm, một việc muốn làm.
Cách tìm ý nhanh: đọc thành tiếng bài thơ hai lượt rồi tự hỏi ba câu. Dòng nào em đọc chậm lại một cách tự nhiên? Hình ảnh nào nhắm mắt vẫn thấy? Nếu chỉ được giữ một câu thơ của bài, em giữ câu nào và vì sao? Ba câu trả lời ấy đủ dựng thân đoạn; với đề Cánh diều, chỉ cần đi sâu vào câu trả lời thứ ba.
Cảm nghĩ về những bài thơ tám chữ trong sách Ngữ văn 9
Mẫu 1: Quê hương (Tế Hanh) – con thuyền và cánh buồm ra khơi
Đọc khổ thơ tả cảnh ra khơi trong Quê hương của Tế Hanh, tôi có cảm giác mình đang ngồi trên chính con thuyền ấy, nghe mái chèo quẫy nước. Bầu trời trong, gió nhẹ, ánh hồng của buổi sớm: chỉ vài nét như thế mà biển hiện ra hiền hòa, như cũng muốn tiễn những người trai làng lên đường thuận lợi. Rồi con thuyền lao đi. Nhà thơ ví nó với con “tuấn mã”, lại dùng những động từ mạnh như “phăng”, “vượt”, khiến câu thơ căng lên như bắp tay người cầm chèo. Hình ảnh làm tôi dừng lâu nhất là cánh buồm được nhà thơ ví với “mảnh hồn làng”. Một tấm vải giương trên cột buồm bỗng mang cả cái vô hình: nỗi chờ mong của những người ở lại, lời cầu cho biển lặng, cái nghề đã nuôi cả làng bao đời. Phải là người lớn lên giữa làng chài mới nhìn cánh buồm bằng con mắt yêu thương đến thế. Dòng thơ tám chữ ở đây vừa đủ dài để chứa trọn một hình ảnh cùng động tác của nó, lại ngắt nhịp gọn như từng nhịp chèo. Gấp sách lại, trước mắt tôi vẫn còn cánh buồm trắng no gió giữa trời sớm mai.
Mẫu 2: Quê hương (Tế Hanh) – khổ thơ cuối và cái mùi của biển
Có những bài thơ phải đọc đến dòng cuối ta mới hiểu vì sao người viết cầm bút, và Quê hương của Tế Hanh là một bài như vậy. Suốt mấy khổ đầu, nhà thơ tả rất tươi: thuyền ra khơi, ghe cá về bến, dân làng tấp nập, làn da rám nắng của người dân chài. Đến khổ cuối, chữ “Nay xa cách” bất ngờ đặt tất cả lại vào đúng chỗ của nó: những gì vừa hiện ra đều là kí ức, được nhìn từ một nơi rất xa. Người con xa quê nhớ nước biếc, nhớ ánh cá bạc lấp lánh, nhớ cánh buồm vôi, rồi khép lại bằng một câu như tiếng thốt: “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!”. Tôi thích nhất chữ “mùi”. Nhớ một màu sắc, một hình ảnh thì nhiều người viết được; nhớ đến cái mùi mặn của gió biển, của cá, của mồ hôi người đi biển thì phải là nỗi nhớ đã ngấm vào máu thịt. Chữ “quá” đứng cuối dòng nghe rất thật, gần với lời nói thường ngày hơn là lời thơ, nên càng chân thành. Thể thơ tám chữ làm khổ thơ thêm sức gợi. Dòng thứ hai ngắt nhịp 3/2/3, ba hình ảnh đứng cạnh nhau như ba tấm ảnh nhỏ; hai dòng giữa bắt vần với nhau ở tiếng “vôi” và “khơi”, âm bằng mở rộng ra như con sóng. Đọc xong khổ cuối, tôi lật lại từ đầu và thấy cả bài thơ khác đi: không còn là bức tranh làng chài nữa mà là một lời thương nhớ rất dài.
Mẫu 3: Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ) – tiếng Việt trong những âm thanh đời thường
Chiều nào bà tôi cũng đứng ở đầu ngõ gọi từng đứa cháu về ăn cơm, giọng kéo dài theo làn khói bếp. Vì thế, ngay ở những dòng mở đầu bài thơ Tiếng Việt của Lưu Quang Vũ, câu “Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm”, đã đưa tôi về đúng cái ngõ ấy. Nhà thơ không mở đầu bằng những lời ca ngợi lớn lao về tiếng mẹ đẻ. Ông để tiếng Việt cất lên từ những nơi bình thường nhất: tiếng gọi lúc chiều tối, tiếng kéo gỗ nhọc nhằn giữa trưa nắng, tiếng gọi đò nơi bến vắng, tiếng nước lũ xoáy vào chân đê. Đó là âm thanh của lao động, của lo toan, có cả nhọc nhằn và đau xót, chứ không chỉ có điều êm ái. Điệp từ “Tiếng” đứng ở đầu nhiều dòng liền nhau, mỗi dòng mở ra một cảnh, đọc lên như nghe từng tiếng vọng lại từ khắp làng quê. Câu thơ tám chữ, ngắt nhịp 3/5, cho mỗi âm thanh có thời gian ngân dài, không bị vội. Tôi nhận ra một điều giản dị mà trước đây chưa nghĩ tới: tiếng Việt không nằm sẵn trong từ điển, nó được nhào nặn từ chính đời sống của bao thế hệ. Bây giờ mỗi lần nghe bà gọi, tôi nghe ra trong đó cả một câu thơ.
Mẫu 4: Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ) – vừa như bùn vừa như lụa (đoạn văn ngắn)
Ai lại đem bùn ra so sánh với điều mình yêu quý nhất? Lưu Quang Vũ làm đúng như thế khi viết tiếng Việt “như bùn và như lụa”, và chính phép so sánh lạ ấy khiến tôi nhớ bài thơ Tiếng Việt lâu nhất. Bùn là đồng ruộng, là chân lấm tay bùn của người làm ra hạt gạo; lụa là sự mềm mại, óng ả, là đôi tay khéo của người thợ dệt. Đặt hai thứ tưởng trái ngược cạnh nhau, nhà thơ cho thấy tiếng Việt chứa được cả cái mộc mạc lẫn cái tinh tế. Ở một đoạn khác, ông viết tiếng nói vẫn còn dù Loa Thành đã mất, ý thơ khiến tôi tự hào: đất có thể mất, thành có thể đổ, nhưng tiếng nói giữ lại hồn một dân tộc. Đọc xong, tôi tự hứa sẽ nói và viết tiếng Việt cẩn thận hơn, ít nhất là không để những lỗi chính tả quen tay lọt vào bài làm, bởi thứ tiếng đã đi qua bao nhiêu thăng trầm như thế xứng đáng được giữ gìn.
Mẫu 5: Nhớ rừng (Thế Lữ) – hai thế giới đối lập trong nỗi nhớ của con hổ
Bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ mở ra bằng một động từ làm tôi giật mình: “Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt”. Nỗi căm hờn vốn vô hình bỗng thành một khối cứng, con hổ phải gậm nhấm nó ngày này qua ngày khác, không nuốt được mà cũng không nhả ra được. Từ hình ảnh ấy, bài thơ dựng lên hai thế giới đối lập. Phía này là vườn bách thú, nơi người ta chăm từng khóm hoa, cắt tỉa từng đám cỏ, san phẳng lối đi, trồng cây theo hàng, có cả dải nước đen giả làm suối, tất cả gọn gàng, ngay ngắn mà tầm thường đến ngột ngạt. Phía kia là đại ngàn trong kí ức với bóng cả cây già, tiếng gió gào, tiếng nguồn thét vang trong núi, và bốn cảnh đẹp như bộ tranh tứ bình: đêm vàng bên bờ suối, ngày mưa, bình minh, buổi chiều đỏ rực. Càng tả rừng rực rỡ bao nhiêu, cái cũi sắt càng chật hẹp bấy nhiêu. Tôi thương con hổ, nhưng hiểu thêm phần chú thích, tôi thấy sau nó là nỗi niềm của những người trẻ thời ấy: ngột ngạt trong cảnh đất nước mất tự do mà chưa tìm được lối ra, chỉ còn biết mơ về một thời phóng khoáng. Thể thơ tám chữ hợp với giọng thơ này: dòng dài, vần liền nối nhau từng cặp, cảm xúc tuôn ra không dừng, như bước đi chậm rãi, đường hoàng của chúa sơn lâm khi nhớ về quá khứ. Gấp sách lại, tôi vẫn nghe tiếng thở dài của một con hổ đang mơ về rừng.
Mẫu 6: Nhớ rừng (Thế Lữ) – giọng nói của con hổ trong câu thơ tám chữ
Lần đầu tự đọc thành tiếng Nhớ rừng, tôi bị hụt hơi ở đoạn thứ ba, chỗ con hổ nhớ lại bốn cảnh rừng từ đêm vàng bên suối đến buổi chiều đỏ rực. Các câu hỏi cứ nối nhau, mở đầu bằng “Nào đâu”, “Đâu những”, dồn dập đến mức người đọc không kịp ngừng. Đến khi tiếng than “Than ôi!” vang lên, tôi mới hiểu cái hụt hơi ấy là cố ý: đó chính là hơi thở của một kẻ đang nghẹn lại vì tiếc nuối thời oanh liệt. Thế Lữ đã tận dụng sức chứa của dòng thơ tám chữ. Câu thơ dài cho phép mỗi cảnh hiện lên trọn vẹn, vần liền đi thành từng cặp khiến các câu níu lấy nhau, còn lối ngắt nhịp linh hoạt khi thì chậm như dáng bước oai vệ, khi thì gấp như tiếng gầm. Nhờ vậy, con hổ không chỉ được tả mà thực sự cất lời.
Mẫu 7: Chiều xuân (Anh Thơ) – lấy cái động để tả cái tĩnh
Nếu phải chọn một điều đặc sắc nhất trong bài Chiều xuân của Anh Thơ, tôi chọn cách nhà thơ dùng những chuyển động rất khẽ để làm nổi lên sự yên tĩnh của làng quê. Ngay câu đầu, “Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng”, mưa có rơi nhưng nhỏ như bụi, nhẹ đến mức chỉ nghe được bằng cảm giác. Con đò thì “biếng lười” nằm yên để mặc dòng nước; quán tranh lặng im; chỉ những cánh xoan tím rơi lả tả. Chính những cánh hoa rơi ấy làm bến sông vắng hơn, vì xung quanh không có gì khác chuyển động. Sang khổ sau, đàn sáo sà xuống đê mổ vu vơ, cánh bướm rập rờn, trâu bò thong thả gặm cỏ; khổ cuối, lũ cò con chợt bay vụt lên làm cô gái đang cúi làm cỏ giật mình. Một tiếng động nhỏ mà cả cánh đồng như bừng tỉnh, rồi lại lặng đi. Tôi rất thích những từ láy êm êm, im lìm, rập rờn, thong thả, bởi chúng làm nhịp thơ chậm lại đúng như nhịp sống của buổi chiều quê. Câu thơ tám chữ, phần nhiều ngắt nhịp 3/5, trải dài như một cái nhìn thong thả lướt qua từng góc bến, góc đê. Đọc bài thơ, tôi hiểu rằng muốn tả sự yên lặng, đôi khi phải biết lắng nghe những tiếng động nhỏ nhất.
Mẫu 8: Chiều xuân (Anh Thơ) – vẻ đẹp bình dị của làng quê (đoạn văn ngắn)
Rút từ tập Bức tranh quê, bài thơ Chiều xuân của Anh Thơ cho tôi thấy một làng quê Bắc Bộ không có gì lộng lẫy mà vẫn đẹp. Bến sông có con đò nằm nghỉ, đường đê tràn cỏ non, đồng lúa xanh và ướt sau mưa. Tôi buồn cười mà thấy thương hình ảnh đàn trâu bò “cúi ăn mưa”, như thể mưa xuân cũng là một món ăn ngon. Người duy nhất xuất hiện trong bài là cô gái yếm thắm lặng lẽ cúi làm cỏ ruộng lúa sắp ra hoa. Không ai nói một lời, cảnh vẫn ấm áp vì có bàn tay người chăm chút. Anh Thơ không cần nói thẳng mình yêu quê đến đâu. Tình yêu ấy nằm ngay trong cái nhìn tỉ mỉ, trìu mến dành cho từng con sáo, cánh bướm, luống cỏ, và trong những câu thơ tám chữ chậm rãi như bước chân người dạo dọc bờ đê lúc chiều.
Cảm nghĩ về những bài thơ tám chữ khác
Mẫu 9: Tựu trường (Huy Cận) – ngày đầu bước vào trường mới
Chưa đầy một năm nữa tôi sẽ bước vào một ngôi trường mới, vì thế bài Tựu trường của Huy Cận, bài thơ được sách Chân trời sáng tạo chọn cho đoạn văn tham khảo, đến với tôi đúng lúc. Bài thơ ghi lại tâm trạng của những chàng trai mười lăm tuổi trong ngày đầu nhập học: rương đồ thì nhỏ, còn tâm hồn được ví với “linh hồn bằng ngọc”, trong trẻo và quý giá. Tôi phục nhà thơ ở chỗ tả nỗi hồi hộp mà không cần gọi tên nó: bước chân non dại còn ngập ngừng, trái tim run run với trăm thứ tình cảm còn rụt rè. Câu thơ làm tôi nghĩ nhiều nhất là “Lòng mới mở giữa tay đời ấm áp”. Cuộc đời ở đây không đáng sợ mà có đôi tay ấm đón lấy người trẻ, như một lời hứa rằng phía trước sẽ có bạn bè, thầy cô, những điều tốt đẹp. Bài thơ còn đánh thức cả khứu giác: mùi sơn mới trên khung cửa sổ, mùi chiếc tủ vừa đánh bóng trong đêm tựu trường, thứ mùi mà ai từng vào lớp mới đều nhớ. Câu thơ tám chữ dài và êm, vần lại nối từ cuối khổ trước sang đầu khổ sau (như “ngọc” với “học”), nên cả bài đọc liền một hơi, chậm rãi như người lớn đang mỉm cười nhìn lại tuổi mười lăm của mình. Tôi chép câu thơ yêu thích ấy vào trang đầu cuốn sổ, để sang năm mang theo đến trường mới.
Mẫu 10: Chợ Tết (Đoàn Văn Cừ) – một bức tranh nhiều màu
Tôi đọc Chợ Tết của Đoàn Văn Cừ lần đầu ở sách Tiếng Việt 4, đến lớp 9 đọc lại mới thấy nó là một bức tranh màu được vẽ bằng chữ. Ngay câu mở, “Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi”, màu trắng của mây đang chuyển sang đỏ theo ánh bình minh, rồi sương hồng lam phủ những mái nhà tranh. Bức tranh ấy có cả màu áo đỏ của mấy chú bé chạy lon xon, màu yếm thắm của cô gái che miệng cười, màu con bò vàng chạy theo sau người gánh lợn. Nhà thơ không bỏ sót ai: cụ già chống gậy, lưng còng lom khom, em bé rúc đầu vào yếm mẹ, người các ấp nối nhau trên con đường trắng men theo sườn đồi. Những từ láy lon xon, lom khom vừa gợi dáng vẻ vừa gợi nhịp bước, làm cả đoàn người như đang chuyển động trước mắt. Mỗi dòng thơ tám chữ giống một khung hình, nối dài thành một cuộn phim chậm về buổi sáng phiên chợ Tết ở một vùng quê có núi đồi. Bài thơ làm tôi muốn một lần được dậy thật sớm, theo bà ra phiên chợ cuối năm.
Mẫu 11: Tổ quốc nhìn từ biển (Nguyễn Việt Chiến) – tình yêu biển đảo
Bài thơ Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến làm tôi phải đặt lại câu hỏi mình chưa từng nghĩ: đất nước trông thế nào nếu ta đứng từ ngoài khơi nhìn vào? Nhà thơ trả lời bằng một chuỗi giả định, nhiều khổ mở đầu bằng hai chữ “Nếu Tổ quốc”, như những lần xoay chiếc kính để nhìn từ một phía mới: từ bão giông, từ quần đảo, từ thương tích, từ hiểm họa. Nhà thơ gọi về câu chuyện năm mươi người con theo mẹ lên núi, năm mươi người theo cha xuống biển, khiến biển đảo không còn là chuyện địa lí xa xôi mà là phần máu thịt trong gia đình lớn của dân tộc. Tôi nhớ nhất hình ảnh biển cần lao như “áo mẹ bạc sờn”: biển vừa nuôi người, vừa chịu bao sóng gió, giống người mẹ lặng lẽ mà vất vả. Những cái tên Hoàng Sa, Trường Sa, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Hòn Mê hiện lên dày đặc, đọc như điểm danh những người con đang đứng gác giữa biển. Thể thơ tám chữ cho bài thơ giọng điệu trang nghiêm mà tâm tình, mỗi dòng dài như một lời nói chậm rãi, có sức nặng. Khổ cuối khép lại bằng hình ảnh con tàu vẫn hướng ra khơi, một kết thúc không bi lụy mà đầy tin tưởng. Đọc xong, tôi hiểu tình yêu đất nước có khi bắt đầu từ việc nhớ đúng tên từng hòn đảo nhỏ.
Mẫu 12: Quê hương (Tế Hanh) và Chiều xuân (Anh Thơ) – một thể thơ, hai giọng quê
Đặt Quê hương của Tế Hanh bên cạnh Chiều xuân của Anh Thơ, tôi mới thấy cùng là thơ tám chữ mà hai bài thơ có hai nhịp đập khác hẳn. Tế Hanh viết về một làng chài miền biển, khỏe khoắn và sôi nổi: thuyền lao như tuấn mã, buồm căng gió, bến đỗ ồn ào ngày ghe về. Câu thơ của ông nhiều động từ mạnh, nhịp nhanh, đọc lên thấy cả tiếng sóng. Còn bài thơ của Anh Thơ mở ra một làng quê đồng bằng trong mưa bụi, con đò nằm yên, trâu bò thong thả, người làm đồng lặng lẽ cúi xuống. Câu thơ của bà chậm, mềm, nhiều từ láy, như một tiếng thở nhẹ. Cùng một khuôn tám chữ, nhưng mỗi nhà thơ tìm được nhịp riêng hợp với cảnh quê của mình. Điều đó giúp tôi hiểu rằng thể thơ chỉ là chiếc khung, còn cái hồn của bài thơ đến từ tình yêu và cách nhìn của người viết. Hai bài thơ, một sôi động, một trầm lặng, cùng để lại trong tôi lòng thương mến những làng quê bình dị.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi hay gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Chọn nhầm bài thơ bảy chữ (Nắng mới, Tràng giang…) hoặc bài thơ tự do. | Trước khi viết, thử đếm tiếng ở vài dòng; ghi luôn một câu về thể thơ trong đoạn văn để người chấm thấy em nhận diện đúng. |
| Kể lại nội dung từng khổ, khiến đoạn văn chỉ còn là lời tóm tắt. | Chọn một hai điểm làm em xúc động nhất và nói kĩ: câu thơ nào, hình ảnh nào, vì sao em có cảm nghĩ ấy. |
| Nói về thể thơ một cách chung chung, kiểu khen thể thơ làm bài thơ hay và giàu cảm xúc. | Gắn thể thơ với một câu cụ thể: dòng dài chứa trọn một cảnh, nhịp 3/5 chậm rãi, vần liền nối các câu, chuỗi câu hỏi dồn dập… |
| Trích sai câu thơ hoặc chép nguyên cả khổ. | Trích ngắn, đúng nguyên văn trong ngoặc kép; chỗ nào không nhớ chắc thì diễn ý, không đặt ngoặc kép. |
| Viết thành nhiều đoạn hoặc thiếu câu chủ đề. | Gói trong một đoạn duy nhất; câu mở có tên bài, tác giả, ấn tượng ban đầu; câu cuối gói lại cảm nghĩ. |
| Cảm xúc sáo rỗng, câu nào cũng “em rất xúc động”. | Thay lời khen bằng chi tiết: em dừng lại ở chữ nào, hình ảnh ấy làm em nhớ đến ai, việc gì. |
| Với đề Cánh diều, nói lan man nhiều yếu tố. | Đề Cánh diều chỉ cần một điểm hay nhất của Chiều xuân: chọn một (vd từ láy, lấy động tả tĩnh, hình ảnh con người) và đi sâu. |
Mẹo nhỏ: viết xong, gạch chân câu chủ đề và câu kết đoạn. Nếu hai câu ấy na ná nhau, đổi câu kết sang hướng khác: một việc em muốn làm sau khi đọc, một hình ảnh em mang theo, hay một câu hỏi bài thơ gợi ra.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Nếu học sách Kết nối tri thức, đọc trước Mẫu 3 và Mẫu 4 về bài Tiếng Việt; học sách Chân trời sáng tạo, xem Mẫu 9 về Tựu trường và Mẫu 1, Mẫu 2 về Quê hương; học sách Cánh diều, Mẫu 7 và Mẫu 8 là hai cách làm bài tập về Chiều xuân, mỗi đoạn chọn một yếu tố khác nhau. Mẫu 4, Mẫu 6, Mẫu 8 là đoạn ngắn hợp với bài kiểm tra 15 phút; Mẫu 2, Mẫu 5, Mẫu 11 dài hơn, dành cho bạn muốn luyện cách phân tích vần, nhịp. Đọc để học cách tìm ý, rồi tự viết về bài thơ em thích bằng giọng của mình.
Để nối kiến thức của bài này với cả chương trình học kì, em có thể xem hệ thống kiến thức học kì II lớp 9 sách Cánh diều.
Xem thêm:
- Soạn bài Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ) – Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
- Soạn bài Mưa xuân (Nguyễn Bính) – Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
- Soạn bài Quê hương (Tế Hanh) – Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo
- Soạn bài Quê hương (Tế Hanh) – Ngữ văn 9 Cánh diều
- Soạn bài Nhớ rừng (Thế Lữ) – Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo
- Phân tích bài thơ Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ)
- Phân tích bài thơ Nhớ rừng (Thế Lữ)
- Đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ bốn chữ, năm chữ (lớp 7)