Mở bài Quê hương là đoạn dẫn vào bài nghị luận về bài thơ tám chữ của Tế Hanh, văn bản học trong Ngữ văn 7 Kết nối tri thức và Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo (bộ Cánh diều cũng chọn bài này). Mở bài cần giới thiệu nhà thơ, hoàn cảnh ra đời và vấn đề đề bài hỏi: bức tranh làng chài, vẻ đẹp người dân chài hay nỗi nhớ quê của người con đi xa. Dưới đây là 13 mẫu mở bài viết sẵn, gồm trực tiếp, gián tiếp, theo đề và nâng cao.

Cách viết mở bài Quê hương
- Gọi đúng tác giả và nhan đề: bài Quê hương của Tế Hanh (đừng nhầm với bài cùng tên của Đỗ Trung Quân hay Giang Nam).
- Nêu một nét hoàn cảnh: bài viết năm 1939, khi Tế Hanh còn đi học ở Huế, xa làng chài quê nhà; rút từ tập Nghẹn ngào, sau in trong Hoa niên.
- Câu chốt phải khớp đề: đề cả bài nói về bức tranh làng chài và tình yêu quê; đề một đoạn thì chỉ nêu cảnh ra khơi, cảnh thuyền về hoặc nỗi nhớ.
- Trích đúng bản SGK: ở câu thơ về cánh buồm, sách ghi chữ trương (nhiều trang chép nhầm thành giương). Thơ Tế Hanh còn bảo hộ nên trích ngắn, mỗi chỗ tối đa hai dòng.
Mở bài trực tiếp Quê hương
Mẫu 1 – ngắn gọn
Tế Hanh là nhà thơ gắn bó cả đời với hình ảnh quê nhà, và bài thơ Quê hương là thi phẩm đánh dấu tên tuổi ông từ thuở còn rất trẻ. Viết bằng thể thơ tám chữ, bài thơ dựng lại cảnh sống của một làng chài miền biển, qua đó gửi gắm niềm thương nhớ trong trẻo mà da diết của người con phải sống xa quê.
Mẫu 2 – giới thiệu đầy đủ tác giả, hoàn cảnh, vấn đề
Tế Hanh (1921–2009), tên khai sinh là Trần Tế Hanh, lớn lên ở một làng chài ven biển tỉnh Quảng Ngãi. Ông đến với thơ ở chặng cuối của phong trào Thơ mới, mang theo một giọng thơ chân thật, giàu hình ảnh và thấm đẫm tình quê. Bài thơ Quê hương được ông viết năm 1939, khi đang theo học ở Huế, in trong tập Nghẹn ngào rồi được đưa vào tập Hoa niên năm 1945. Bằng những câu thơ tám chữ khỏe khoắn, Tế Hanh tái hiện cảnh đoàn thuyền ra khơi, cảnh dân làng đón ghe về bến, đồng thời bày tỏ nỗi nhớ quê không nguôi của một người đang ở xa.
Mở bài gián tiếp Quê hương
Mẫu 3 – từ đề tài quê hương trong thơ ca
Mỗi người đều có một góc quê để thương, để nhớ, nên quê hương trở thành đề tài mà thi sĩ nào cũng muốn viết. Có người nhớ chùm khế ngọt, có người nhớ cánh đồng thả diều, còn Tế Hanh lại mang theo vị mặn của gió biển và màu cánh buồm trắng. Bài thơ Quê hương của ông không kể lể nhiều về mình mà để cho làng chài tự hiện lên với con thuyền, cánh buồm, người dân chài và mẻ cá bạc. Đằng sau bức tranh tươi sáng ấy là tấm lòng thiết tha của người con đã đi xa.
Mẫu 4 – từ hồn thơ Tế Hanh giữa phong trào Thơ mới
Thơ mới những năm cuối thập niên 1930 có nhiều giọng điệu buồn: cái sầu vũ trụ, cái tôi cô đơn, những mộng tưởng xa xôi. Giữa không khí đó, Tế Hanh xuất hiện với một hồn thơ khác hẳn, trong trẻo và gần gũi như con sông chảy qua làng. Bài thơ Quê hương là minh chứng rõ nhất cho nét riêng ấy. Không than thở, không trốn vào mộng, nhà thơ trẻ hướng ngòi bút về làng chài quê mình, về những con người lao động khỏe mạnh và cuộc sống no vui của họ.
Mẫu 5 – từ hoàn cảnh xa quê khi đi học ở Huế
Có những miền quê chỉ thật sự hiện rõ khi người ta đã rời xa nó. Năm 1939, chàng học trò Tế Hanh đang theo học ở Huế, cách làng chài Quảng Ngãi của mình cả một chặng đường dài. Nỗi nhớ quê dồn nén ấy đã kết thành bài thơ Quê hương. Mở đầu bằng câu giới thiệu mộc mạc “Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới”, bài thơ đưa người đọc về một vùng biển đầy nắng gió, nơi con người và cảnh vật đều đượm hương vị của biển cả.
Mẫu 6 – từ nhận định của Hoài Thanh
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh nhận xét: “Tế Hanh là một người tinh lắm”. Nhà phê bình đặc biệt quý ở hồn thơ ấy khả năng cảm nhận những gì vô hình, như cái hồn của cả một làng quê gửi vào một cánh buồm. Nhận xét đó được minh chứng trọn vẹn qua bài thơ Quê hương. Từ những chi tiết rất đời thường của làng chài, Tế Hanh đã khơi ra vẻ đẹp khỏe khoắn của con người lao động và gửi vào đó tình yêu quê hương trong sáng, sâu nặng.
Mẫu 7 – từ hình ảnh cánh buồm
Đọc bài thơ Quê hương của Tế Hanh, khó ai quên được hình ảnh cánh buồm căng gió trên đường ra khơi: “Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng”, cánh buồm ấy còn rướn mình ra giữa trời để gom gió. Một vật dụng quen thuộc của nghề biển bỗng trở nên lớn lao, thiêng liêng như linh hồn của cả làng chài. Chỉ một hình ảnh ấy đã đủ cho thấy tài quan sát và tấm lòng gắn bó của nhà thơ với quê hương. Toàn bộ bài thơ là bức tranh tươi sáng về làng biển, vừa tự hào vừa thương nhớ.
Mẫu 8 – từ “mùi nồng mặn” của biển quê
Nỗi nhớ quê đôi khi không đến từ cảnh vật mà từ một mùi hương rất riêng. Với Tế Hanh, đó là mùi của biển, của cá tươi, của những con người dãi nắng ngoài khơi. Khép lại bài thơ Quê hương, ông thốt lên: “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!”. Câu thơ giản dị mà chứa cả một trời thương nhớ. Để đi đến tiếng reo ấy, nhà thơ đã dẫn người đọc qua cảnh làng chài lúc thuyền ra khơi, lúc ghe cá trở về, qua đó hiện lên tình quê chân thành của người đang sống nơi đất khách.
Mẫu 9 – so sánh với Nhớ con sông quê hương
Suốt hành trình sáng tác, Tế Hanh luôn trở đi trở lại với quê nhà. Sau năm 1954, khi tập kết ra Bắc, ông viết Nhớ con sông quê hương với nỗi nhớ gắn với khát vọng thống nhất. Nhưng trước đó rất lâu, khi mới chừng mười tám tuổi, ông đã có bài thơ Quê hương, nơi tình quê còn nguyên vẻ hồn nhiên của tuổi học trò. Làng chài trong bài thơ hiện lên khỏe khoắn, tươi vui, giàu sức sống, như chính tâm hồn trẻ trung của nhà thơ thuở ấy.
Mở bài Quê hương theo đề thường gặp
Mẫu 10 – đề phân tích cảnh thuyền ra khơi
Bài thơ Quê hương của Tế Hanh mở ra bằng một buổi sớm đẹp trời, khi trai tráng trong làng chèo thuyền ra khơi đánh cá. Chỉ trong sáu câu thơ, nhà thơ đã vẽ nên một không gian trong trẻo và một khí thế lao động hăng hái. Con thuyền lướt sóng như ngựa phi, cánh buồm căng như đang gom cả gió trời. Phân tích đoạn thơ này, ta thấy rõ niềm tự hào của Tế Hanh về sức sống mạnh mẽ của làng chài quê hương.
Mẫu 11 – đề phân tích cảnh thuyền về bến và người dân chài
Sau cảnh ra khơi hăng hái, bài thơ Quê hương của Tế Hanh chuyển sang cảnh ghe thuyền trở về trong tiếng cười nói rộn rã của dân làng. Nổi bật trong tám câu thơ ấy là chân dung người dân chài rám nắng, cả thân mình như thấm vị biển khơi, và con thuyền nằm nghỉ sau chuyến đi dài: “Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”. Đoạn thơ cho thấy cái nhìn tinh tế cùng tình cảm trìu mến mà nhà thơ dành cho những con người lao động nơi quê nhà.
Mẫu 12 – đề cảm nhận khổ thơ cuối
Ba khổ thơ đầu bài Quê hương của Tế Hanh là cảnh làng chài hiện lên trong hồi ức; đến khổ cuối, nhà thơ mới nói thẳng nỗi lòng mình. Xa quê, người con ấy nhớ màu nước, nhớ cá bạc, nhớ cánh buồm vôi và con thuyền rẽ sóng. Nỗi nhớ dồn lại trong một tiếng reo mộc mạc mà da diết, như thể chỉ cần nhắm mắt lại là có thể thấy vị biển phả vào lòng. Bốn câu thơ cuối vì thế là nơi kết tinh tình yêu quê hương của tác giả.
Mở bài Quê hương nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 13 – từ quê hương như một phần cơ thể của người con
Có những người mang quê hương theo mình như mang theo một phần da thịt. Tế Hanh là người như thế: đi đâu, ông cũng nghe trong mình tiếng sóng và vị mặn của làng chài Quảng Ngãi. Bài thơ Quê hương, viết khi tác giả còn là chàng học trò xa nhà, cho thấy điều đó rất rõ. Con người trong bài thơ rám nắng, nồng vị biển; con thuyền cũng thấm dần chất muối vào từng thớ gỗ. Quê hương không chỉ là nơi chốn để nhớ về, mà đã ngấm vào cơ thể, vào tâm hồn. Bằng thể thơ phóng khoáng và những liên tưởng táo bạo, Tế Hanh đã nâng cảnh sinh hoạt bình dị của một làng biển thành bài ca về sức sống và về sự gắn bó máu thịt giữa con người với cội nguồn.
Nên chọn mẫu mở bài Quê hương nào?
Mười ba mẫu mở bài Quê hương ở trên dẫn vào bài thơ của Tế Hanh theo nhiều cách: giới thiệu thẳng, đi từ đề tài quê hương, từ hồn thơ riêng giữa Thơ mới, từ hoàn cảnh xa quê, từ lời Hoài Thanh hay từ hình ảnh cánh buồm. Bài kiểm tra ngắn nên chọn mẫu trực tiếp; đề chỉ hỏi một đoạn thì dùng mẫu riêng cho cảnh ra khơi, cảnh thuyền về hoặc khổ cuối. Em nhớ giữ câu chốt khớp đề và viết lại bằng lời của mình.
Câu hỏi ôn tập cuối kì thường yêu cầu nhìn lại nhiều văn bản cùng lúc; bài ôn tập học kì II Ngữ văn 9 Cánh diều gợi ý cách trả lời từng câu theo sách.
Xem thêm:
- Soạn bài Quê hương (Tế Hanh) – Chân trời sáng tạo 9, Kết nối tri thức 7
- Quê hương (Tế Hanh): tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Tóm tắt bài thơ Quê hương ngắn gọn, đầy đủ
- Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh
- Mục lục Ngữ văn 9 Cánh diều (Bài 7: Thơ tám chữ và thơ tự do)
- Tác giả Tế Hanh: cuộc đời và sự nghiệp thơ ca
- Kết bài Quê hương (Tế Hanh) hay nhất – 12 mẫu ngắn gọn, liên hệ, theo đề