Tóm tắt bài thơ Quê hương của Tế Hanh giúp em ghi nhớ nhanh bức tranh làng chài ven biển và nỗi nhớ quê da diết của người con xa xứ. Bài thơ tám chữ gồm 20 dòng, được viết năm 1939 khi Tế Hanh đang học ở Huế, in trong tập Nghẹn ngào (1939), sau đó in lại trong tập Hoa niên (1945). Văn bản được học ở Bài 3 sách Ngữ văn 7 Kết nối tri thức (tập một), Bài 1 sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo (tập một) và Bài 7 sách Ngữ văn 9 Cánh diều (tập hai). Dưới đây là 9 mẫu tóm tắt, từ vài câu ngắn đến bản chi tiết.
Muốn xem gợi ý cho từng câu hỏi trong sách, em có thể mở bài soạn Quê hương sách Cánh diều.
Sơ đồ tư duy tóm tắt bài thơ Quê hương
Sơ đồ tóm lược bốn đoạn của bài thơ và những hình ảnh tiêu biểu nên đưa vào bài tóm tắt.


Tóm tắt bài thơ Quê hương ngắn nhất – mẫu 1
Nhà thơ giới thiệu làng chài quê mình nằm giữa sông nước, cách biển nửa ngày chèo thuyền. Ông kể lại cảnh trai làng hăng hái ra khơi trong buổi sớm đẹp trời và cảnh cả làng náo nức đón thuyền đầy cá trở về. Xa quê, ông luôn nhớ màu nước, cánh buồm, con thuyền và cái mùi mặn mòi của biển.
Tóm tắt bài thơ Quê hương ngắn gọn – mẫu 2
Quê hương là bức tranh tươi sáng về một làng chài ven biển miền Trung, nơi Tế Hanh sinh ra và lớn lên. Vào một sớm mai hồng, trời trong gió nhẹ, những chàng trai khỏe mạnh chèo thuyền ra khơi; con thuyền lướt băng băng, cánh buồm căng gió như linh hồn của cả làng. Hôm sau, bến đỗ ồn ào, dân làng tấp nập đón ghe cá đầy khoang trở về. Người dân chài da rám nắng, thấm đẫm vị biển; con thuyền nằm nghỉ trên bến như cũng biết mệt. Kết bài, nhà thơ bày tỏ nỗi nhớ quê tha thiết khi phải sống xa làng.
Tóm tắt nội dung bài thơ Quê hương theo bố cục – mẫu 3
Phần 1 (2 dòng đầu) – Giới thiệu làng quê: Làng của nhà thơ sống bằng nghề chài lưới, bốn bề là nước, từ làng ra biển mất nửa ngày đi thuyền.
Phần 2 (6 dòng tiếp) – Cảnh thuyền ra khơi: Trong buổi sớm trời trong, gió nhẹ, dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Con thuyền hăng hái như con tuấn mã, mái chèo mạnh mẽ vượt sông dài; cánh buồm to rướn lên đón gió, được ví như mảnh hồn làng.
Phần 3 (8 dòng tiếp) – Cảnh thuyền cá về bến: Ngày hôm sau, bến đỗ rộn ràng, dân làng tấp nập đón ghe. Họ cảm tạ trời đất vì biển lặng, cá đầy ghe, những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Người dân chài có làn da ngăm rám nắng, cả thân hình như toát ra hơi thở của biển khơi. Con thuyền nằm im trên bến, nghe vị muối thấm dần vào thớ gỗ.
Phần 4 (4 dòng cuối) – Nỗi nhớ quê hương: Sống xa quê, nhà thơ luôn nhớ màu nước xanh, cá bạc, cánh buồm trắng, con thuyền rẽ sóng và đặc biệt là mùi mặn nồng của biển quê.
Tóm tắt bài thơ Quê hương bằng một đoạn văn – mẫu 4
Bài thơ Quê hương mở đầu bằng lời giới thiệu giản dị về làng chài của Tế Hanh: một làng sống bằng nghề đánh cá, nằm giữa vùng sông nước, cách biển nửa ngày sông. Khi bình minh ửng hồng, trời trong và gió nhẹ, những người trai tráng cùng nhau đưa thuyền ra khơi. Con thuyền băng băng như ngựa chiến, mái chèo khua mạnh trên dòng sông lớn, cánh buồm trắng căng phồng, vươn mình hứng gió như mang theo cả linh hồn làng chài. Ngày hôm sau, thuyền trở về; trên bến, cả làng náo nức đón những khoang cá đầy, tươi rói, lấp lánh ánh bạc. Người dân chài hiện lên với làn da nâu rám nắng, cơ thể như thấm đẫm vị mặn của biển xa. Con thuyền được kéo lên bến nằm nghỉ, lặng nghe muối biển ngấm vào từng thớ vỏ. Cuối bài, nhà thơ bộc bạch: dù xa quê, lòng ông vẫn luôn nhớ màu nước, con cá, cánh buồm, con thuyền và cái mùi nồng mặn không thể quên của làng biển.
Tóm tắt bài thơ Quê hương chi tiết – mẫu 5
Quê hương được Tế Hanh viết năm 1939, khi ông còn là một cậu học trò đang theo học ở Huế. Xa làng chài ven biển Quảng Ngãi, nỗi nhớ quê đã thôi thúc ông viết nên bài thơ này.
Hai dòng thơ đầu giới thiệu quê hương một cách mộc mạc như lời kể chuyện: làng tôi vốn làm nghề chài lưới, nước bao quanh, từ làng ra biển mất nửa ngày sông.
Tiếp theo là cảnh ra khơi. Thời tiết thật thuận lợi: trời trong, gió nhẹ, ánh sớm mai hồng. Những người trai tráng khỏe mạnh bơi thuyền đi đánh cá. Con thuyền nhẹ mà hăng như con tuấn mã, mái chèo phăng mạnh mẽ vượt qua dòng sông dài. Cánh buồm giương to, trắng bao la, rướn lên để thâu góp gió, được nhà thơ ví như mảnh hồn của làng, chứa đựng bao ước mơ, hi vọng của người dân chài.
Cảnh thuyền về bến lại mang một nhịp khác: ồn ào, tấp nập, vui tươi. Dân làng đổ ra bến đón ghe, cùng nói lời cảm tạ trời đất đã cho biển lặng, cá đầy ghe. Những con cá tươi ngon, thân bạc trắng là thành quả của một chuyến đi bình yên. Người dân chài có làn da ngăm rám nắng, cả thân hình như nồng lên hơi thở của biển khơi. Còn con thuyền, sau chuyến ra khơi, im lặng nằm trên bến như một sinh thể biết mỏi mệt, lắng nghe chất muối thấm dần vào thớ vỏ.
Khổ thơ cuối là nỗi nhớ quê hương của người con xa xứ:
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
Những hình ảnh, màu sắc quen thuộc của làng chài đều hiện về trong tâm trí, và cao hơn cả là cái mùi nồng mặn – hương vị riêng của biển quê. Câu thơ cảm thán kết bài cho thấy tình yêu quê hương trong sáng, tha thiết và sâu nặng của Tế Hanh.
Tóm tắt bài thơ Quê hương theo lời người con xa quê – mẫu 6
Làng tôi là một làng chài nhỏ, bốn bề sông nước, muốn ra tới biển phải chèo thuyền nửa ngày. Tôi nhớ những buổi sớm trời trong, gió nhẹ, ráng hồng phủ trên mặt nước, các anh trai làng khỏe mạnh đẩy thuyền ra khơi. Con thuyền lao đi hăng hái như một con ngựa chiến, cánh buồm trắng căng phồng đón gió, tôi luôn thấy nó giống như hồn vía của làng mình. Ngày hôm sau, cả làng đổ ra bến, ồn ào đón thuyền về, ai cũng mừng vì biển lặng, cá đầy khoang, con nào con nấy tươi rói, sáng bạc. Những người dân chài làng tôi da đen sạm vì nắng gió, trên người lúc nào cũng phảng phất mùi biển. Con thuyền được kéo lên bến, nằm nghỉ sau chuyến đi dài, như đang lắng nghe muối biển ngấm vào thân gỗ. Giờ đây, sống xa quê, tôi vẫn nhớ màu nước xanh, những con cá bạc, cánh buồm trắng, con thuyền rẽ sóng ra khơi, và nhớ nhất là mùi nồng mặn của biển quê hương.
Tóm tắt hai cảnh lao động làng chài trong bài thơ Quê hương – mẫu 7
Cảnh ra khơi: Diễn ra vào buổi sớm mai trời đẹp. Nhân vật chính là dân trai tráng khỏe mạnh. Con thuyền được so sánh với con tuấn mã, cánh buồm được so sánh với mảnh hồn làng. Nhịp thơ nhanh, mạnh, gợi khí thế hăng hái, tràn đầy sức sống của những người lao động đi chinh phục biển cả.
Cảnh thuyền về bến: Diễn ra vào ngày hôm sau, không khí ồn ào, tấp nập. Cả làng đón ghe, cá đầy khoang, lời cảm tạ trời đất cho thấy niềm vui và ước mong bình yên của người dân biển. Hình ảnh người dân chài rám nắng, thấm vị biển và con thuyền nằm nghỉ trên bến cho thấy sự gắn bó máu thịt giữa con người, con thuyền với biển khơi.
Hai cảnh nối tiếp nhau đã dựng nên bức tranh lao động vừa khỏe khoắn vừa thơ mộng, làm nền cho nỗi nhớ quê ở khổ thơ cuối.
Tóm tắt nội dung và ý nghĩa bài thơ Quê hương – mẫu 8
Bài thơ vẽ nên bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển, trong đó nổi bật hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân chài và nhịp sinh hoạt lao động của làng chài. Qua đó, Tế Hanh thể hiện tình yêu quê hương trong sáng, thiết tha và nỗi nhớ quê không nguôi của người con xa xứ. Bài thơ thành công nhờ thể thơ tám chữ giàu nhạc điệu, những hình ảnh so sánh, nhân hóa mới lạ (con tuấn mã, mảnh hồn làng, con thuyền biết mỏi), cùng lời thơ vừa mộc mạc vừa bay bổng. Quê hương cũng mở đầu cho dòng thơ viết về quê hương xuyên suốt sự nghiệp của Tế Hanh.
Tóm tắt bài thơ Quê hương để học thuộc ý – mẫu 9
- 2 dòng đầu: giới thiệu làng chài giữa sông nước, cách biển nửa ngày sông.
- 6 dòng tiếp: sớm mai đẹp trời, trai tráng ra khơi; thuyền như tuấn mã, buồm như mảnh hồn làng.
- 8 dòng tiếp: thuyền về bến, dân làng đón cá; người dân chài rám nắng, con thuyền nằm nghỉ nghe muối thấm.
- 4 dòng cuối: xa quê, nhớ màu nước, cá bạc, buồm vôi, con thuyền và mùi nồng mặn.
- Ý nghĩa: tình yêu quê hương trong sáng, tha thiết của nhà thơ.
Kết luận
Các mẫu tóm tắt trên đều giữ đúng trình tự bốn đoạn của bài thơ: giới thiệu làng – cảnh ra khơi – cảnh thuyền về – nỗi nhớ quê. Em dùng mẫu 1, mẫu 2 cho câu hỏi đọc hiểu ngắn; dùng mẫu 4, mẫu 5 khi cần giới thiệu tác phẩm trong bài văn phân tích. Tế Hanh mất năm 2009, bài thơ còn được bảo hộ bản quyền nên bài viết chỉ trích khổ cuối; em đọc toàn văn trong SGK.
Xem thêm:
- Quê hương (Tế Hanh): Tác giả, tác phẩm
- Soạn bài Quê hương (Tế Hanh)
- Phân tích bài thơ Quê hương
- Cảm nhận bài thơ Quê hương
- Tuyển tập thơ Tế Hanh
- Mở bài Quê hương (Tế Hanh) hay nhất – 13 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao
- Kết bài Quê hương (Tế Hanh) hay nhất – 12 mẫu ngắn gọn, liên hệ, theo đề