Kết bài Quê hương là phần khép lại bài nghị luận về bài thơ tám chữ của Tế Hanh, văn bản học trong Ngữ văn 7 Kết nối tri thức và Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo (bộ Cánh diều cũng chọn bài này). Kết bài cần khẳng định vẻ đẹp của bức tranh làng chài, sức sống của người dân miền biển và tình quê sâu nặng của nhà thơ, đồng thời để lại cảm nghĩ riêng. Dưới đây là 12 mẫu kết bài viết sẵn, gồm tổng kết, liên hệ, mở rộng và kết theo đề. Riêng học sinh Ngữ văn 9 Cánh diều có thể ôn bố cục bốn phần và cách gieo vần của bài thơ ở bài soạn Quê hương sách Cánh diều.

Cách viết kết bài Quê hương
- Nhắc lại tên bài thơ, tác giả và hai giá trị chính: bức tranh làng chài khỏe khoắn và tình yêu quê hương của người con xa xứ.
- Có thể điểm lại nghệ thuật: thể thơ tám chữ, so sánh, nhân hóa, cảm nhận bằng nhiều giác quan, nhưng không phân tích lại.
- Liên hệ nên tự nhiên: tình cảm với nơi mình sinh ra, sự trân trọng người lao động, ý thức giữ gìn biển quê.
- Kết bài phải đúng phạm vi đề: đề một đoạn thì khép lại ở đoạn đó và nói ngắn về ý nghĩa của nó trong cả bài.
Kết bài tổng kết Quê hương
Mẫu 1 – ngắn gọn
Bài thơ Quê hương của Tế Hanh đã khắc họa thành công một làng biển tươi vui, giàu sức sống. Người đọc cũng nhận ra tấm lòng thủy chung, thiết tha của nhà thơ với mảnh đất đã nuôi mình khôn lớn.
Mẫu 2 – tóm lược giá trị nội dung và nghệ thuật
Với thể thơ tám chữ phóng khoáng, hình ảnh chọn lọc và những phép so sánh, nhân hóa độc đáo, Tế Hanh đã đem đến cho người đọc một bức tranh làng chài vừa chân thực vừa thơ mộng. Ở đó có buổi sớm mai ra khơi đầy khí thế, có bến đỗ ồn ào ngày thuyền trở về, có những con người lao động khỏe mạnh, mang trong mình hơi thở của biển. Bài thơ Quê hương vì thế không chỉ là bức tranh quê đẹp mà còn là lời tâm tình chân thành của người con chưa bao giờ nguôi nhớ chốn sinh thành.
Mẫu 3 – khẳng định vị trí của bài thơ và tác giả
Hơn tám mươi năm sau ngày ra đời, bài thơ Quê hương vẫn được chọn vào sách giáo khoa và vẫn làm rung động nhiều thế hệ học sinh. Đó là thi phẩm tiêu biểu cho hồn thơ chân chất, đằm thắm của Tế Hanh, đồng thời thuộc số những bài thơ hay nhất về làng quê Việt Nam ở chặng cuối phong trào Thơ mới. Làng chài nhỏ ở Quảng Ngãi, nhờ những câu thơ ấy, đã trở thành một miền quê chung trong tâm hồn bao người đọc.
Kết bài Quê hương liên hệ, mở rộng
Mẫu 4 – liên hệ bản thân khi phải xa quê
Khép trang thơ Quê hương của Tế Hanh, em chợt nghĩ đến ngày mình cũng sẽ rời nhà để đi học, đi làm ở một nơi xa. Khi ấy, có lẽ em cũng sẽ nhớ những điều rất nhỏ: con đường làng, bữa cơm của mẹ, mùi rơm hay mùi biển quê mình. Bài thơ dạy em rằng tình yêu quê hương không cần lời lẽ lớn lao, nó bắt đầu từ việc nâng niu những gì bình dị nhất quanh ta.
Mẫu 5 – liên hệ trách nhiệm với biển quê hôm nay
Làng chài trong bài thơ Quê hương của Tế Hanh là hình ảnh thu nhỏ của biết bao làng biển dọc dải đất hình chữ S. Hôm nay, những người dân chài vẫn ngày ngày vươn khơi, vừa mưu sinh vừa góp phần giữ gìn vùng biển của Tổ quốc. Đọc lại bài thơ, em thêm quý trọng người lao động miền biển và hiểu rằng yêu quê hương còn là bảo vệ môi trường biển, giữ cho con nước luôn xanh và mẻ cá luôn đầy như trong thơ.
Mẫu 6 – mở rộng sang Nhớ con sông quê hương
Từ bài thơ Quê hương viết năm 1939 đến Nhớ con sông quê hương viết sau ngày tập kết, Tế Hanh đã đi một chặng đường dài, nhưng tình quê trong thơ ông chưa bao giờ phai nhạt. Nếu bài thơ sau gửi nỗi nhớ vào dòng sông xanh và khát vọng sum họp, thì bài thơ trước lưu giữ hình ảnh làng chài thuở thiếu thời với cánh buồm, con thuyền và mùi biển mặn mòi. Đọc hai bài thơ, ta càng hiểu vì sao Tế Hanh được nhớ đến như một nhà thơ của quê hương.
Mẫu 7 – trở lại câu thơ mở đầu “Làng tôi”
Bài thơ Quê hương bắt đầu bằng hai tiếng “làng tôi” mộc mạc và khép lại bằng một nỗi nhớ cồn cào. Giữa hai điểm ấy là cả một làng chài sống động hiện về trong ký ức của Tế Hanh. Cách xưng hô thân thương ở câu đầu cho thấy nhà thơ luôn coi làng là một phần của chính mình, nên dù đi xa đến đâu, ông vẫn mang theo nó trong lòng. Đó cũng là thông điệp đẹp nhất mà bài thơ để lại cho người đọc hôm nay.
Mẫu 8 – khép lại bằng nhận định của Hoài Thanh
Hoài Thanh từng khen Tế Hanh có giác quan rất nhạy, nhận ra cả những thứ vốn không có màu sắc, không có tiếng động. Bài thơ Quê hương đã chứng minh trọn vẹn lời khen ấy: nhà thơ nhận ra hồn làng trong một cánh buồm, nghe được chất muối thấm vào thân thuyền, ngửi thấy vị biển trên da thịt người dân chài. Chính sự tinh tế ấy, cộng với sợi dây gắn bó sâu nặng giữa ông và quê nhà, đã làm nên sức sống lâu bền cho bài thơ.
Kết bài Quê hương theo đề thường gặp
Mẫu 9 – đề phân tích cảnh thuyền ra khơi
Chỉ với sáu câu thơ, Tế Hanh đã vẽ nên cảnh ra khơi đầy khí thế trong bài Quê hương: bầu trời trong, gió nhẹ, đoàn trai tráng hăng hái, con thuyền băng băng và cánh buồm căng lộng gió. Đoạn thơ cho thấy sức sống mạnh mẽ của làng chài và Tế Hanh tự hào biết bao về những người lao động quê mình.
Mẫu 10 – đề phân tích cảnh thuyền về bến
Cảnh thuyền về bến trong bài thơ Quê hương là bức tranh sinh hoạt rộn rã, no đủ và đầy tình người. Từ tiếng cười của dân làng, những con cá tươi ngon đến dáng vẻ rắn rỏi của người dân chài và con thuyền nằm nghỉ, tất cả đều được Tế Hanh quan sát bằng con mắt tinh tế và một tấm lòng trìu mến. Đoạn thơ khép lại phần hồi tưởng, chuẩn bị cho nỗi nhớ trào dâng ở khổ cuối.
Mẫu 11 – đề cảm nhận khổ thơ cuối
Bốn câu thơ cuối bài Quê hương là lúc Tế Hanh thôi kể, thôi tả để nói thẳng nỗi lòng mình. Những hình ảnh màu nước, cá bạc, cánh buồm vôi nối nhau hiện về, rồi dồn lại trong câu thơ “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!”. Khổ thơ ngắn mà đọng lại cả một đời thương nhớ, khiến người đọc nào từng xa quê cũng thấy mình trong đó.
Kết bài Quê hương nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 12 – khép lại bằng suy ngẫm về cội nguồn
Có những bài thơ được nhớ vì câu chữ cầu kỳ, còn bài thơ Quê hương được nhớ vì nó giản dị như chính đời sống của làng chài. Tế Hanh không tô vẽ quê mình bằng những mỹ từ, ông chỉ chọn những hình ảnh thật nhất: chiếc thuyền, cánh buồm, mẻ cá, làn da rám nắng, và để tình yêu thấm vào từng chi tiết như muối thấm vào thớ gỗ. Đọc bài thơ, ta hiểu rằng quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là thứ âm thầm nuôi dưỡng tâm hồn ta. Người nào giữ được cội nguồn ấy trong lòng thì dù đi xa đến đâu cũng không lạc mất chính mình.
Nên chọn mẫu kết bài Quê hương nào?
Mười hai mẫu kết bài Quê hương ở trên khép bài theo nhiều hướng: tổng kết giá trị, khẳng định vị trí, liên hệ bản thân, liên hệ biển quê hôm nay, mở rộng sang Nhớ con sông quê hương hay kết riêng cho từng đoạn thơ của Tế Hanh. Bài viết ngắn nên dùng mẫu tổng kết; bài thi muốn ghi điểm có thể chọn mẫu liên hệ hoặc mẫu nâng cao. Em giữ kết bài thống nhất với mở bài và diễn đạt bằng cảm nhận riêng.
Khi chuẩn bị bài kiểm tra cuối kì, em nên đọc bài ôn tập học kì II Ngữ văn 9 Cánh diều sau khi soạn xong các văn bản.
Xem thêm:
- Soạn bài Quê hương (Tế Hanh) – Chân trời sáng tạo 9, Kết nối tri thức 7
- Quê hương (Tế Hanh): tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Tóm tắt bài thơ Quê hương ngắn gọn, đầy đủ
- Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh
- Mục lục Ngữ văn 9 Cánh diều (Bài 7: Thơ tám chữ và thơ tự do)
- Tác giả Tế Hanh: cuộc đời và sự nghiệp thơ ca
- Mở bài Quê hương (Tế Hanh) hay nhất – 13 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao