Nhân vật là những con người, con vật, đồ vật hay sinh thể tưởng tượng được nhà văn dựng lên trong tác phẩm, có diện mạo, lời nói, việc làm và suy nghĩ riêng để người đọc nhận ra. Ngoài văn chương, từ này còn chỉ người có tiếng tăm, có vai trò trong xã hội, như khi nói “một nhân vật quan trọng”. Bài này giải thích cả nhân vật trong văn học lẫn nhân vật chính, nhân vật phản diện.
| Khái niệm | Đối tượng được nhà văn khắc họa trong tác phẩm, thường là con người |
| Nghĩa ngoài văn học | Người có địa vị, tiếng tăm hoặc vai trò đáng kể |
| Gốc từ | Hán Việt 人物: nhân (người) + vật (vật, sự vật) |
| Thuộc | Yếu tố cơ bản của truyện, kịch, tiểu thuyết (học từ Ngữ văn 6) |
| Dấu hiệu nhận biết | Có tên gọi hoặc cách gọi, có hình dáng, hành động, lời nói, ý nghĩ |

Nhân vật là ai trong một câu chuyện?
Chữ Hán 人物 vốn chỉ “người và vật”, rồi dần thu lại thành nghĩa “con người”, nhất là người có danh tiếng. Từ điển tiếng Việt ghi hai nghĩa: người có tiếng tăm, có địa vị hay vai trò quan trọng; và vai trong truyện, người trong vở kịch do diễn viên thể hiện. Ví dụ quen thuộc nhất cho nghĩa sau là Thúy Kiều, nhân vật chính của Truyện Kiều.
Trong giờ Ngữ văn, khái niệm được nêu ngay từ bài đầu lớp 6 bộ Kết nối tri thức. Theo phần tri thức ngữ văn của bài học, nhân vật là đối tượng được nhà văn khắc họa trong một tác phẩm, có diện mạo, cử chỉ, lời nói, cảm xúc và ý nghĩ để người đọc hình dung được. Sách cũng lưu ý nhân vật thường là người, nhưng có thể là thần tiên, ma quỷ, con vật hay đồ vật.
Điểm cần nhớ: nhân vật là sản phẩm của trang viết. Kể cả khi nhà văn lấy một người có thật làm mẫu, nhân vật trong truyện vẫn là hình tượng đã qua chọn lọc, tô đậm, đôi khi hư cấu thêm. Vì thế khi phân tích, ta bàn về Lão Hạc “trong truyện”, chứ không đi tìm một ông lão ngoài đời.
Chính, phụ, chính diện, phản diện: xếp nhân vật thế nào?
Có hai cách chia hay gặp nhất trong sách giáo khoa và đề kiểm tra, dựa trên hai câu hỏi khác nhau.
| Cách chia | Câu hỏi đặt ra | Các loại | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Theo vai trò trong cốt truyện | Câu chuyện xoay quanh ai? | Nhân vật chính, nhân vật phụ | Trong Thánh Gióng: Gióng là nhân vật chính; bà mẹ, sứ giả là nhân vật phụ |
| Theo phẩm chất, lập trường | Nhân vật đứng về phía cái thiện hay cái ác? | Nhân vật chính diện, nhân vật phản diện | Trong Thạch Sanh: Thạch Sanh chính diện, Lý Thông phản diện |
Hai cách chia này không trùng nhau. Nhân vật chính thường là chính diện, nhưng không bắt buộc: Chí Phèo của Nam Cao là nhân vật chính mà có một quãng đời gây bao tai họa cho làng Vũ Đại. Ở các truyện hiện đại, ranh giới thiện ác cũng mờ hơn truyện cổ tích, nhiều nhân vật vừa đáng trách vừa đáng thương.
Ngoài hai cách chia đó, sách còn gọi tên nhân vật theo thể loại: nhân vật kì ảo trong truyền thuyết, cổ tích (Bụt, tiên, chằn tinh); nhân vật loài vật trong truyện đồng thoại, ngụ ngôn; nhân vật trữ tình trong thơ. Riêng loại cuối khác hẳn nhân vật trong truyện, xem bài nhân vật trữ tình của thơ ca để khỏi lẫn.
Nhân vật hiện lên qua ngoại hình, lời nói, việc làm
Nhà văn ít khi giới thiệu thẳng “đây là người tốt”. Họ để nhân vật tự lộ ra qua những lớp chi tiết, và người đọc gom lại mà nhận xét.
- Ngoại hình: dáng người, gương mặt, quần áo. Một đôi càng mẫm bóng, một bộ râu dài cũng đủ cho thấy nhân vật đang tự mãn thế nào.
- Hành động: việc nhân vật làm, cách nhân vật cư xử với người khác và với sự việc. Đây thường là bằng chứng rõ nhất về tính cách.
- Ngôn ngữ: lời đối thoại, độc thoại. Cách xưng hô, giọng điệu kiêu căng hay nhún nhường đều nói lên điều gì đó.
- Ý nghĩ, cảm xúc: những gì nhân vật nghĩ thầm, day dứt, ân hận. Phần này giúp thấy chiều sâu bên trong.
- Cái nhìn của người khác: lời nhận xét của người kể chuyện hoặc của nhân vật khác về nhân vật đó.
Khi đề yêu cầu “nêu đặc điểm nhân vật”, cách làm chắc nhất là đi qua lần lượt năm lớp này, mỗi lớp nhặt một hai chi tiết, rồi rút ra nét tính cách. Các chi tiết ấy lại gắn với diễn biến câu chuyện, nên nắm được các chặng của một cốt truyện cũng giúp đọc nhân vật dễ hơn.
Dế Mèn, Lão Hạc, Chí Phèo: đọc nhân vật qua chi tiết
Dế Mèn, nhân vật con vật biết ân hận
Trong đoạn trích Bài học đường đời đầu tiên, Tô Hoài cho Dế Mèn tự kể về mình: tự hào về thân hình cường tráng, đi đứng oai vệ, hay cà khịa với hàng xóm. Trò trêu chị Cốc khiến Dế Choắt chết oan, và lời ăn năn của Mèn bên nấm mồ bạn mới là chỗ nhân vật lớn lên. Một con dế mà có đủ ngoại hình, hành động, lời nói, ý nghĩ: đó là lí do Dế Mèn được chọn để dạy khái niệm nhân vật. Phần câu hỏi đọc hiểu nằm trong bài soạn Bài học đường đời đầu tiên của Tô Hoài.
Lão Hạc, nhân vật được soi qua mắt người kể
Nam Cao không cho Lão Hạc tự kể. Ta biết ông lão qua ông giáo: chuyện bán cậu Vàng rồi sang kể với ông giáo trong nước mắt, chuyện gửi lại mảnh vườn và tiền làm ma, rồi cái chết dữ dội vì bả chó. Người kể có lúc hiểu lầm Lão Hạc, và chính sự hiểu lầm ấy khiến phút vỡ lẽ cuối truyện thêm nặng. Nhân vật ở đây hiện lên qua hành động nhiều hơn lời nói, như phân tích kĩ trong bài đặc điểm nhân vật Lão Hạc qua từng chi tiết.
Chí Phèo, nhân vật thay đổi theo câu chuyện
Chí Phèo vừa là nạn nhân vừa là kẻ gây tội, và ở đoạn gặp Thị Nở, nhân vật bỗng thức tỉnh khát khao lương thiện. Đây là kiểu nhân vật có chuyển biến tâm lí, khác với nhân vật cổ tích thường giữ nguyên một nét tốt hay xấu từ đầu đến cuối.
Nhân vật, người kể chuyện và tác giả không phải một
| Khái niệm | Là ai | Ví dụ |
|---|---|---|
| Tác giả | Người thật viết ra tác phẩm | Tô Hoài, Nam Cao |
| Người kể chuyện | Người thuật lại câu chuyện, có thể xưng “tôi” hoặc giấu mình | Ông giáo trong Lão Hạc |
| Nhân vật | Đối tượng được khắc họa trong câu chuyện | Lão Hạc, cậu Vàng, vợ ông giáo |
| Nhân vật trữ tình | Người bộc lộ cảm xúc trong bài thơ | “Tôi” trong một bài thơ tình |
Người kể chuyện có thể đồng thời là nhân vật: Dế Mèn vừa kể vừa là nhân vật chính, ông giáo vừa kể vừa tham gia câu chuyện. Khi người kể đứng ngoài, gọi nhân vật bằng tên, ta có người kể chuyện giấu mình ở ngôi thứ ba. Lỗi hay gặp nhất trong bài làm là viết “tác giả Dế Mèn”: Dế Mèn là nhân vật, Tô Hoài mới là tác giả.
Ở lớp 12, học sinh còn gặp nhan đề rất dễ gây nhầm: vở hài kịch Nhân vật quan trọng của Gô-gôn, nơi chữ “nhân vật” dùng theo nghĩa người có quyền thế, còn bản thân anh chàng bị tưởng là quan to lại là một nhân vật kịch.
Luyện nhận diện nhân vật qua năm câu
Câu 1: Trong truyền thuyết Thánh Gióng, nhân vật chính là ai và có những nhân vật phụ nào?
Đáp án: Nhân vật chính là Gióng. Nhân vật phụ gồm bà mẹ, sứ giả, dân làng góp gạo nuôi Gióng; giặc Ân là lực lượng đối địch. Toàn bộ sự việc đều xoay quanh việc Gióng lớn lên và ra trận nên Gióng giữ vai trò trung tâm.
Câu 2: Trong truyện Thạch Sanh, nhân vật nào là chính diện, nhân vật nào là phản diện?
Đáp án: Thạch Sanh là nhân vật chính diện, đại diện cho người hiền lành, dũng cảm, vị tha. Mẹ con Lý Thông là nhân vật phản diện vì gian xảo, cướp công và nhiều lần hãm hại Thạch Sanh.
Câu 3: Trong câu “Ông ấy là một nhân vật có máu mặt ở thị trấn”, từ “nhân vật” mang nghĩa nào?
Đáp án: Nghĩa “người có địa vị, có tiếng tăm” ngoài đời, không phải nhân vật trong tác phẩm văn học. Cụm “có máu mặt” càng nhấn vào thế lực của người được nói tới.
Câu 4: Con vật có thể làm nhân vật chính của một truyện không? Hãy nêu ví dụ.
Đáp án: Có. Dế Mèn trong Dế Mèn phiêu lưu kí là nhân vật chính và là con vật được nhân hóa, có suy nghĩ, lời nói như người. Truyện đồng thoại và truyện ngụ ngôn rất hay dùng nhân vật loài vật.
Câu 5: Trong Bài học đường đời đầu tiên, Dế Mèn giữ những vai trò nào?
Đáp án: Dế Mèn vừa là người kể chuyện (xưng “tôi”, kể ở ngôi thứ nhất) vừa là nhân vật chính của câu chuyện. Còn Tô Hoài là tác giả, người viết ra cả nhân vật lẫn lời kể ấy.
Nhân vật trong truyện, trong kịch và ngoài đời
Nhân vật trong văn học là gì, khác gì người thật?
Nhân vật trong văn học là hình tượng do nhà văn tạo ra bằng chữ, có thể dựa trên người thật nhưng luôn đã qua hư cấu, chọn lọc. Người thật thì sống ngoài trang sách, còn nhân vật chỉ tồn tại qua những gì tác phẩm kể ra.
Nhân vật chính là gì?
Là nhân vật giữ vai trò trung tâm, xuất hiện nhiều và gắn với các sự việc quan trọng nhất của câu chuyện. Một truyện có thể có một hoặc vài nhân vật chính.
Nhân vật phản diện là gì?
Là nhân vật đại diện cho cái xấu, cái ác, thường đối lập và gây trở ngại cho nhân vật chính diện, như mụ dì ghẻ trong Tấm Cám hay Lý Thông trong Thạch Sanh.
Nhân vật tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh gọi là character. Nhân vật chính là main character hoặc protagonist, nhân vật phản diện là villain hoặc antagonist.