Cảm xúc là sự rung động nảy sinh trong lòng khi ta tiếp xúc với một sự việc, một con người hay một cảnh vật: vui khi được khen, sợ khi nghe tiếng sấm, nghẹn lại khi đọc một trang thư cũ. Hỏi “cảm xúc nghĩa là gì” thì câu trả lời gọn nhất là thế. Còn các loại cảm xúc, tâm lý học đã thử đếm và gọi tên từ lâu.
| Nghĩa ngắn | Rung động trong lòng khi tiếp xúc với sự việc bên ngoài |
| Gốc từ | Hán Việt 感觸: cảm (động lòng) + xúc (chạm vào) |
| Loại từ | Danh từ (bày tỏ cảm xúc); cũng dùng như động từ (dễ cảm xúc) |
| Đồng nghĩa | xúc cảm |
| Tiếng Anh | emotion, feeling |

Từ điển giảng cảm xúc thế nào?
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) ghi hai cách dùng. Ở vai động từ, cảm xúc là có tư tưởng, tình cảm nảy sinh do tiếp xúc với sự việc khách quan, như trong câu người dễ cảm xúc. Ở vai danh từ, cảm xúc là chính cái tình cảm vừa nảy sinh ấy, do có sự rung động trong lòng: bày tỏ cảm xúc, cố ghìm nén cảm xúc, mặt lạnh tanh, không một chút cảm xúc.
Điểm đáng để ý nằm ở chữ “nảy sinh”. Cảm xúc không tự dưng có; nó luôn có một cái cớ. Có thể là một tin nhắn, một bản nhạc, một lời trách. Cái cớ qua đi thì cảm xúc thường cũng dịu xuống.
Ví dụ: Đọc xong bài thơ, em không nói được gì, chỉ thấy một cảm xúc rất khó gọi tên.
感觸: cảm là động lòng, xúc là chạm vào
Chữ cảm (感) có nghĩa là động lòng, thấy được bằng giác quan hay bằng tâm trí; nó có mặt trong cảm động, cảm nhận, cảm thông. Chữ xúc (觸) là chạm, đụng vào, như tiếp xúc, xúc giác. Ghép lại, cảm xúc là lòng mình rung lên vì vừa “chạm” phải một điều gì.
Từ điển Hán Việt giảng 感觸 là va chạm với ngoại vật mà rung động trong lòng. Hình ảnh ấy khá đúng với trải nghiệm thật: chuông điện thoại reo lúc nửa đêm, tim đập nhanh trước khi ta kịp nghĩ là ai gọi. Đảo hai chữ thành xúc cảm thì nghĩa gần như không đổi.
Cảm xúc, tình cảm hay tâm trạng?
Ba từ này hay bị dùng thay nhau, nhất là trong bài văn. Thật ra chúng khác nhau ở độ dài và ở chỗ dựa.
| Từ | Nghĩa (theo Hoàng Phê) | Kéo dài bao lâu | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Cảm xúc | Tình cảm nảy sinh do rung động trong lòng | Thường ngắn, gắn với một sự việc cụ thể | Hồi hộp lúc gọi tên lên bảng |
| Tình cảm | Sự yêu mến, gắn bó giữa người với người; phản ứng tâm lí tích cực trước hiện thực | Bền, tích lại qua thời gian | Tình cảm với ông bà, với quê |
| Tâm trạng | Trạng thái tâm lí cụ thể trong một thời điểm nào đó | Một buổi, một ngày, có khi lâu hơn | Cả buổi chiều thấy uể oải |
Dễ nhớ thế này: cảm xúc là một đợt sóng, tâm trạng là mặt nước sau mấy đợt sóng, còn tình cảm là dòng chảy bên dưới. Giới trẻ hay gọi tâm trạng bằng một chữ tiếng Anh; bài giải thích chữ mood và chuyện tụt mood nói kỹ cách dùng đó.
Trái nghĩa với có cảm xúc là vô cảm, lạnh lùng, trơ trơ. Cũng nên tách cảm xúc với cảm giác: cảm giác thiên về giác quan (lạnh, đau, ngứa), cảm xúc thiên về lòng người.
Muốn đổi cảm xúc sang xúc cảm, rung cảm hay tìm cách nói đối lập như vô cảm, lí trí thì xem đồng nghĩa, trái nghĩa với cảm xúc.
Có bao nhiêu loại cảm xúc cơ bản?
Câu hỏi “có mấy loại cảm xúc” được nhiều nhà tâm lý học trả lời khác nhau. Cách chia quen thuộc nhất đến từ nhà tâm lý học người Mỹ Paul Ekman. Khi nghiên cứu nét mặt ở nhiều nền văn hóa, kể cả một cộng đồng ở Papua New Guinea gần như chưa tiếp xúc với phim ảnh phương Tây, ông thấy có sáu cảm xúc được nhận ra khá giống nhau ở khắp nơi:
- Vui (hạnh phúc, thích thú)
- Buồn
- Giận
- Sợ
- Ghê tởm (thấy kinh, muốn tránh xa)
- Ngạc nhiên
Về sau Ekman thêm khinh (coi thường) làm cảm xúc thứ bảy. Danh sách này không phải chân lý cuối cùng: có những nhà nghiên cứu khác cho rằng không thể đọc chính xác cảm xúc chỉ qua gương mặt, và có mô hình chia thành tám loại. Với học sinh, giá trị lớn nhất của bảng sáu cảm xúc là nó cho ta những cái tên đầu tiên để gọi đúng điều mình đang thấy.
Gọi được tên cảm xúc là bước mở đầu của việc làm chủ nó. Bài chỉ số EQ và năng lực điều tiết cảm xúc đi tiếp ở bước sau: nhận ra, hiểu và điều chỉnh cảm xúc của mình lẫn của người khác.
Viết ra cảm xúc trong bài văn
Nhiều đề lớp 6, lớp 7 yêu cầu “ghi lại cảm xúc về một bài thơ”. Chỗ yếu hay gặp là chỉ viết “em thấy rất hay, rất xúc động”. Một đoạn văn cảm xúc tốt thường làm ba việc: chỉ ra câu chữ đã chạm vào mình, gọi tên cảm xúc thật cụ thể (bâng khuâng, xót, ấm lòng, áy náy), rồi nói vì sao. Có thể đối chiếu với các đoạn văn mẫu ghi lại cảm xúc về bài thơ lục bát để thấy cách gọi tên ấy trên trang giấy.
Dám nói thật cảm xúc của mình trước người khác cần một chút sự tự tin, phẩm chất có ranh giới rất mỏng với tự cao.
Cảm xúc: những câu hỏi học sinh hay gõ tìm
Cảm xúc nghĩa là gì nói ngắn gọn?
Là sự rung động trong lòng khi ta tiếp xúc với một sự việc. Vui, buồn, giận, sợ đều là cảm xúc.
Các loại cảm xúc gồm những gì?
Theo Paul Ekman có sáu cảm xúc cơ bản: vui, buồn, giận, sợ, ghê tởm và ngạc nhiên; ông bổ sung thêm khinh. Từ những cảm xúc gốc này sinh ra rất nhiều sắc thái khác như tủi thân, ghen tị, bồi hồi.
Cảm xúc và xúc cảm có khác nhau không?
Gần như không. Từ điển xếp hai từ là đồng nghĩa; “xúc cảm” nghe văn chương hơn một chút.
Cảm xúc tiêu cực có xấu không?
Buồn, giận hay sợ là phản ứng bình thường, có lúc còn giúp ta tránh nguy hiểm. Điều cần học là không để chúng điều khiển lời nói và việc làm. Nếu buồn bã hay lo âu kéo dài nhiều tuần, nên nói với người lớn tin cậy hoặc tìm chuyên gia tâm lý.