Thể thơ là cái khuôn mà một bài thơ được dựng lên theo đó, với những quy cách nhất định: mỗi dòng có bao nhiêu tiếng, bài có bao nhiêu dòng, vần gieo ở đâu, ngắt nhịp ra sao, và với thơ luật thì cả cách đặt thanh bằng, thanh trắc. Lục bát, song thất lục bát, thất ngôn bát cú, thơ tự do đều là tên các thể thơ. Câu hỏi “cách xác định thể thơ” thực chất là đếm và đối chiếu những quy cách ấy.
| Nghĩa | Khuôn hình thức của bài thơ: số tiếng, số dòng, vần, nhịp, thanh điệu |
| Thuộc | Kiến thức về hình thức thơ trong môn Ngữ văn, học từ lớp 6 |
| Dấu hiệu nhận biết | Đếm tiếng mỗi dòng, đếm dòng, tìm vần, xem nhịp, xét bằng trắc |
| Ví dụ | Lục bát, song thất lục bát, thất ngôn tứ tuyệt, thơ năm chữ, thơ tự do |

Thể thơ: chiếc khuôn của câu chữ
Trong từ điển, thể có một nét nghĩa là hình thức sáng tác văn, thơ theo những quy cách nhất định, và ví dụ đi kèm chính là “thể thơ lục bát”. Như vậy thể thơ là cái khuôn, còn bài thơ là thứ được đổ vào khuôn. Hai bài thơ nói về hai chuyện chẳng liên quan vẫn có thể cùng một thể, vì chúng dùng chung một khuôn.
Khuôn có chặt có lỏng. Thơ Đường luật chặt nhất: số câu, số chữ, vần, đối, bằng trắc đều có phép. Lục bát chặt vừa phải. Thơ tự do lỏng gần như hoàn toàn, nhưng vẫn là thơ nhờ nhịp và hình ảnh. Biết bài thơ dùng khuôn nào giúp người đọc hiểu vì sao câu thơ ngân dài, vì sao chỗ này ngắt mạnh, chỗ kia đọc liền.
Thể thơ khác với thể loại. Thơ là một thể loại văn học, bên cạnh truyện, kí, kịch; còn lục bát hay thất ngôn tứ tuyệt là các thể nằm bên trong thể loại thơ. Bài đặc trưng của thơ so với văn xuôi nói kĩ về thể loại này.
Năm điều cần soi khi xác định thể thơ
- Số tiếng mỗi dòng. Đếm từng tiếng (âm tiết). Dòng đều năm tiếng gợi thơ năm chữ hoặc ngũ ngôn; dòng sáu xen dòng tám là lục bát.
- Số dòng của bài hoặc của khổ. Bốn dòng bảy chữ nghĩ đến tứ tuyệt; tám dòng bảy chữ nghĩ đến bát cú.
- Vần. Vần ở cuối dòng là vần chân, vần rơi vào giữa dòng là vần lưng. Lục bát dùng cả hai. Muốn ôn cách tìm vần, xem bài cách nhận ra vần chân và vần lưng.
- Nhịp. Câu bảy chữ Đường luật thường ngắt 4/3, câu lục bát chủ yếu ngắt nhịp chẵn 2/2/2.
- Thanh bằng, trắc và phép đối. Chỉ cần xét kĩ với thơ luật và lục bát. Thanh ngang, thanh huyền là bằng; sắc, hỏi, ngã, nặng là trắc.
Thứ tự ấy cũng là thứ tự làm bài. Đếm tiếng và đếm dòng thường đã đủ đoán thể; vần, nhịp, bằng trắc dùng để khẳng định.
Ba nhóm thể thơ học sinh hay gặp
| Nhóm | Thể thơ | Quy cách chính |
|---|---|---|
| Thể thơ dân tộc | Lục bát | Cặp câu sáu tiếng và tám tiếng; tiếng 6 câu lục vần với tiếng 6 câu bát |
| Thể thơ dân tộc | Song thất lục bát | Hai câu bảy tiếng rồi một cặp lục bát, cứ thế nối tiếp |
| Thơ Đường luật | Thất ngôn bát cú | Tám câu, mỗi câu bảy chữ; có niêm, luật, đối ở hai cặp câu giữa |
| Thơ Đường luật | Thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn | Bốn câu bảy chữ; hoặc câu năm chữ |
| Thơ hiện đại | Thơ bốn, năm, sáu, bảy, tám chữ; thơ tự do | Đặt tên theo số tiếng mỗi dòng; thơ tự do không cố định số tiếng, số dòng |
Cách chia này không phải duy nhất; có tài liệu tách thơ ngũ ngôn và thơ năm chữ hiện đại thành hai thể, có tài liệu gộp. Danh sách đầy đủ hơn, kèm bài thơ tiêu biểu của từng thể, có ở trang tổng hợp các thể thơ của Việt Nam.
Nhận diện thể thơ qua Truyện Kiều và Qua Đèo Ngang
Lục bát mở đầu Truyện Kiều
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Dòng trên sáu tiếng, dòng dưới tám tiếng: dấu hiệu đầu tiên của lục bát. Tiếng thứ sáu dòng trên là ta, vần với tiếng thứ sáu dòng dưới là là, một vần lưng. Xét thanh: các tiếng thứ 2, 6, 8 (năm, ta; tài, là, nhau) đều là thanh bằng, tiếng thứ 4 (cõi, mệnh) là thanh trắc. Bố cục ấy làm câu thơ êm, lên xuống đều như lời ru. Lục bát cũng là thể của đại đa số ca dao, nên đọc lên người Việt thấy quen tai. Bài cách làm một bài thơ lục bát có thêm luật gieo vần cho bài dài; vì sao lục bát được xem là thể thơ riêng của người Việt thì đọc phần soạn văn bản bàn về lục bát lớp 9.
Thất ngôn bát cú trong Qua Đèo Ngang
Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Mỗi câu bảy chữ, toàn bài tám câu, vần “a” gieo ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8 (tà, hoa…). Câu đầu ngắt 4/3: Bước tới Đèo Ngang / bóng xế tà. Hai cặp câu giữa đối nhau từng chữ. Khuôn chặt như vậy khiến cảnh đèo hiện ra cân đối, trang nghiêm, hợp với giọng hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan. Phần tìm hiểu đầy đủ có trong bài tác giả, tác phẩm Qua Đèo Ngang.
Bốn câu bảy chữ của Bánh trôi nước
Bài thơ của Hồ Xuân Hương chỉ có bốn câu, mỗi câu bảy chữ, vần chân ở cuối câu 1, 2, 4. Đó là thất ngôn tứ tuyệt. Thể thơ ngắn buộc mỗi chữ phải gánh nhiều nghĩa, nên chiếc bánh trôi trong bài vừa là món ăn vừa là thân phận người phụ nữ. Xem phần đọc hiểu ở bài tìm hiểu Bánh trôi nước trong Ngữ văn 7.
Thể thơ, vần và nhịp: đừng gộp làm một
| Khái niệm | Nói về | Ví dụ |
|---|---|---|
| Thể thơ | Toàn bộ khuôn hình thức của bài | Lục bát |
| Vần | Sự hòa âm giữa các tiếng, một yếu tố bên trong khuôn | ta – là |
| Nhịp | Chỗ ngắt khi đọc, một yếu tố khác bên trong khuôn | 4/3 |
| Thể loại | Loại hình văn học lớn chứa nhiều thể thơ | Thơ, truyện, kịch |
Khi đề hỏi “bài thơ được viết theo thể thơ nào”, chỉ cần gọi tên thể và nêu dấu hiệu. Viết “bài thơ có vần chân” là chưa trả lời, vì vần chỉ là một mảnh của khuôn.
Luyện tập: bốn câu nhận diện thể thơ
Câu 1: Đoạn thơ có dòng sáu tiếng và dòng tám tiếng xen nhau, tiếng thứ sáu dòng sáu vần với tiếng thứ sáu dòng tám. Đó là thể thơ gì?
Đáp án: Thể lục bát. Dấu hiệu quyết định là cặp sáu – tám và vần lưng ở tiếng thứ sáu của dòng tám.
Câu 2: Một bài thơ có bốn câu, mỗi câu bảy chữ, vần ở cuối câu 1, 2 và 4. Hãy gọi tên thể thơ.
Đáp án: Thất ngôn tứ tuyệt. “Thất ngôn” là bảy chữ, “tứ tuyệt” là bốn câu. Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là một ví dụ.
Câu 3: Bài thơ có các dòng dài ngắn khác nhau (ba tiếng, chín tiếng, sáu tiếng…), số dòng mỗi khổ không đều. Bạn xác định thể thơ thế nào?
Đáp án: Đó là thơ tự do. Khi số tiếng mỗi dòng và số dòng mỗi khổ không theo khuôn cố định, không nên ép vào thể nào khác; hãy chỉ ra nhịp và hình ảnh tạo nên chất thơ.
Câu 4: Vì sao không thể chỉ dựa vào số chữ để phân biệt thất ngôn bát cú Đường luật với một bài thơ bảy chữ hiện đại dài tám dòng?
Đáp án: Vì thơ Đường luật còn có niêm, luật bằng trắc và phép đối ở hai cặp câu giữa, chỉ gieo một vần bằng xuyên suốt. Bài thơ bảy chữ hiện đại thường chia khổ, đổi vần, không bắt buộc đối. Cần xét thêm vần, đối và thanh điệu mới kết luận được.
Những điều học trò lớp 6, lớp 7 cần nhớ về thể thơ
Có bao nhiêu thể thơ?
Không có con số cố định, vì mỗi tài liệu chia theo cách riêng. Ở trường, học sinh chủ yếu gặp khoảng mười thể: lục bát, song thất lục bát, các thể Đường luật, thơ bốn đến tám chữ và thơ tự do.
Thơ tự do có phải là thể thơ không?
Có. Thơ tự do vẫn được gọi tên như một thể, dù đặc điểm của nó là không gò số tiếng, số dòng, vần. Nhận ra thơ tự do chính là nhận ra sự vắng mặt của những khuôn cố định.
Thể thơ tiếng Anh là gì?
Thường dịch là poetic form hoặc verse form. Thơ tự do trong tiếng Anh là free verse.
Thể thơ khác thể loại ở điểm nào?
Thể loại là loại hình lớn như thơ, truyện, kịch. Thể thơ là từng khuôn nhỏ bên trong thể loại thơ, như lục bát hay thất ngôn bát cú.