Bản sắc văn hóa dân tộc là những nét văn hóa bền lâu, riêng có của một dân tộc, đủ để người ngoài nhận ra “đây là người Việt” chứ không phải ai khác: tiếng nói, cách ăn ở, phong tục, lối nghĩ, nghệ thuật. Khi người ta hỏi gọn hơn “bản sắc dân tộc là gì”, thường cũng là hỏi về chính phần cốt lõi ấy.
| Nghĩa ngắn | Những giá trị văn hóa đặc trưng, bền vững, làm nên gương mặt riêng của một dân tộc |
| Gốc từ | Bản sắc 本色 (màu gốc, vẻ vốn có) + văn hóa + dân tộc |
| Loại từ | Cụm danh từ |
| Hay đi với | giữ gìn, phát huy, đánh mất, đậm đà, hòa nhập mà không hòa tan |

Tách từng chữ để hiểu bản sắc văn hóa dân tộc
Cụm từ này dài, nhưng tách ra thì dễ nắm. Từ điển tiếng Việt giảng bản sắc là những yếu tố tốt đẹp tạo nên tính chất đặc thù của một cộng đồng hay một sự vật. Chữ Hán 本色 vốn có nghĩa là màu gốc, cái sắc vốn có trước khi bị pha hay nhuộm lại. Hình ảnh ấy khá đắt: bản sắc là phần “màu thật” còn lại sau bao lần va chạm với bên ngoài.
Văn hóa là toàn bộ những gì con người làm ra và trao lại cho nhau, cả thứ cầm nắm được (nhà cửa, áo quần, món ăn) lẫn thứ không cầm được (tiếng nói, niềm tin, cách ứng xử). Ai muốn đi sâu hơn có thể đọc bài giải thích khái niệm văn hóa từ gốc chữ. Còn dân tộc ở đây có hai tầng: cả cộng đồng người Việt Nam, và từng dân tộc trong số 54 dân tộc anh em.
Ghép lại, bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị văn hóa đã lắng xuống qua nhiều thế hệ, đủ bền để thành nếp và đủ riêng để phân biệt. Hai chữ “bền” và “riêng” là chìa khóa. Một mốt áo vừa nổi lên vài năm chưa phải bản sắc; một thói quen ai cũng có thì cũng chẳng làm nên nét riêng.
Nhìn thấy bản sắc ở đâu: từ tiếng nói đến mâm cơm?
Bản sắc không nằm trong khái niệm trừu tượng. Nó hiện ra ở những chỗ rất đời thường.
- Tiếng nói và chữ viết. Tiếng Việt với sáu thanh điệu, cách xưng hô theo vai vế trong nhà (ông, bà, cô, chú, anh, em) là dấu hiệu dễ nhận nhất. Mỗi dân tộc thiểu số cũng giữ tiếng mẹ đẻ của mình.
- Phong tục, lễ tết. Thờ cúng tổ tiên, Tết Nguyên đán, giỗ chạp, tục ăn trầu trong lễ cưới hỏi.
- Ăn mặc, ở. Áo dài, áo bà ba, áo tứ thân; nhà sàn ở miền núi, nhà rường xứ Huế; mâm cơm chung có bát nước mắm ở giữa.
- Nghệ thuật dân gian. Ca dao, dân ca, chèo, tranh Đông Hồ, cồng chiêng Tây Nguyên. Nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, dân ca quan họ đều đã được UNESCO ghi danh.
- Lối nghĩ, cách sống. Trọng tình nghĩa, “uống nước nhớ nguồn”, thương người như thể thương thân, tinh thần cố kết làng xóm.
Phần cuối cùng là khó thấy nhất nhưng lại sâu nhất. Một người Việt sống xa quê vẫn có thể giữ thói quen gọi điện chúc Tết ông bà, dù đã quên cách gói bánh chưng.
Bản sắc hình thành từ đâu và vì sao dễ phai?
Không ai ngồi lại để “thiết kế” ra bản sắc. Nó được bồi đắp chậm qua hàng nghìn năm, từ những điều kiện rất cụ thể. Nền nông nghiệp lúa nước khiến người Việt gắn với làng, với mùa vụ, coi trọng sự đùm bọc. Lịch sử chống ngoại xâm liên miên hun đúc lòng yêu nước và ý thức cộng đồng. Rồi giao lưu với các nền văn hóa láng giềng cũng để lại dấu: chữ Hán, Phật giáo, Nho giáo được người Việt tiếp nhận nhưng “Việt hóa” theo cách riêng.
Chính vì hình thành qua tiếp xúc, bản sắc không đứng yên. Nó có thể dày thêm, cũng có thể mỏng đi. Toàn cầu hóa mở ra cơ hội học hỏi, đồng thời mang tới nguy cơ mọi thứ na ná nhau: cùng một kiểu nhạc, cùng một kiểu quán, cùng một lối nói chêm tiếng nước ngoài. Bài quá trình toàn cầu hóa và hai mặt của nó phân tích khá kĩ chuyện này.
Mất bản sắc cũng không diễn ra trong một ngày. Nó bắt đầu khi lớp trẻ thấy đồ của mình “quê”, khi lễ hội bị thương mại hóa đến mức chỉ còn vỏ, khi một nghề truyền thống không còn người theo học.
Trong lịch sử, bản sắc nhiều dân tộc từng phải chống chọi với chính sách xóa bỏ tiếng nói, phong tục của kẻ thống trị, hiện tượng gọi là đồng hóa văn hóa.
Bản sắc, truyền thống và di sản: ba chữ hay bị đánh đồng
| Khái niệm | Trọng tâm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Bản sắc văn hóa | Nét riêng, cốt cách giúp phân biệt dân tộc này với dân tộc khác | Tinh thần trọng tình nghĩa, cách xưng hô theo vai vế |
| Truyền thống | Thói quen, giá trị được trao từ đời trước sang đời sau; có cái tốt, có cái lỗi thời | Truyền thống hiếu học; tục tảo hôn ở một số nơi (cần bỏ) |
| Di sản văn hóa | Sản phẩm cụ thể được lưu giữ, có thể được công nhận và bảo vệ | Cố đô Huế, ca trù, hát xoan |
Ba khái niệm chồng lên nhau một phần. Có thể hình dung bản sắc là cái “hồn”, còn truyền thống và di sản là những nơi cái hồn ấy hiện ra. Riêng chữ di sản có định nghĩa và cách phân loại khá chặt, xem ở bài di sản vật thể và phi vật thể.
Viết bài nghị luận về giữ gìn bản sắc dân tộc
Đề “Suy nghĩ về việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời hội nhập” xuất hiện khá đều ở THCS và THPT. Một khung ý có thể dùng:
- Giải thích: bản sắc là nét riêng bền vững; giữ gìn là trân trọng, tìm hiểu, thực hành và trao lại.
- Vì sao phải giữ: bản sắc là “căn cước” của một dân tộc trên bản đồ thế giới; mất nó thì hội nhập thành hòa tan.
- Thực trạng: có những bạn trẻ đưa áo dài, nhạc dân tộc lên mạng xã hội rất sáng tạo; bên cạnh đó vẫn có lối sùng ngoại, coi thường cái của mình.
- Giữ không có nghĩa là đóng cửa: tiếp thu cái hay của thế giới, bỏ những hủ tục, để bản sắc sống tiếp trong đời sống mới.
- Việc của học sinh: nói và viết tiếng Việt cho chuẩn, hiểu ý nghĩa lễ tết trong nhà, tìm hiểu một làn điệu dân ca của quê mình.
Hai văn bản nghị luận trong SGK bàn đúng vấn đề này, dùng được làm dẫn chứng: văn bản Bản sắc là hành trang ở lớp 10 và văn bản lớp 12 bàn về toàn cầu hóa và bản sắc.
Mấy điều học sinh hay hỏi về bản sắc dân tộc
Bản sắc dân tộc là gì, có khác bản sắc văn hóa dân tộc không?
Trong cách dùng thường ngày, hai cụm này gần như một. “Bản sắc dân tộc” nói gọn hơn, nhưng nét riêng của một dân tộc chủ yếu hiện ra qua văn hóa, nên người viết hay dùng thay cho nhau.
Ví dụ về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là gì?
Có thể kể tục thờ cúng tổ tiên, Tết Nguyên đán, chiếc áo dài, hát quan họ, cồng chiêng Tây Nguyên, cách xưng hô theo vai vế trong gia đình. Ở tầng sâu hơn là lối sống trọng tình nghĩa và tinh thần đùm bọc.
Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là làm gì?
Là hiểu, quý và thực hành những nét văn hóa riêng của mình, rồi trao lại cho người sau. Việc nhỏ như nói tiếng Việt trong sáng, mặc áo dài ngày lễ, giữ bữa cơm gia đình cũng là một cách giữ.
Hòa nhập mà không hòa tan nghĩa là gì?
Là mở cửa đón cái mới của thế giới nhưng vẫn giữ được gương mặt riêng. Người Việt học công nghệ, học ngoại ngữ, ăn món Tây, nhưng vẫn biết mình là ai và mình từ đâu tới.
Bản sắc là gì, khác cá tính ở đâu?
Tách khỏi cụm “văn hóa dân tộc”, bản sắc là những nét riêng bền và có giá trị làm nên một chủ thể, to như cả một dân tộc, nhỏ như một ngôi trường, một nhãn hàng hay một con người. Tiếng Anh gọi chung là identity: bản sắc cá nhân là những giá trị, lối nghĩ, cách nói năng ổn định giúp ta là chính mình; bản sắc thương hiệu là tên, logo, màu chủ đạo và giọng điệu khiến khách nhận ra ngay.
Bản sắc khác cá tính trong tính cách mỗi người. Cá tính chỉ tính nết, có cả cái gàn, cái bướng; bản sắc chọn lọc hơn, chỉ gồm những nét đáng giữ. Vì vậy không ai nói “bản sắc lười biếng”, và một kiểu tóc theo trend vài tháng cũng chưa thành bản sắc.