Soạn bài Toàn cầu hóa và bản sắc văn hóa dân tộc hướng dẫn em làm hai yêu cầu chuẩn bị, chín câu hỏi đọc hiểu bên lề và sáu câu hỏi sau khi đọc ở trang 142 – 146, Bài 5 (Văn nghị luận), sách Ngữ văn 12 Cánh diều tập một. Văn bản của nhà nghiên cứu Phan Hồng Giang bàn về một vấn đề vẫn rất nóng: giữ gìn bản sắc dân tộc thế nào khi cánh cửa giao lưu với thế giới mở rộng chưa từng có.
Tìm hiểu chung về văn bản Toàn cầu hóa và bản sắc văn hóa dân tộc
Em nên đọc qua phần này để nắm khung văn bản trước khi trả lời câu hỏi.

- Tác giả: nhà nghiên cứu Phan Hồng Giang (1941 – 2022), có tên thật là Nguyễn Đức Hân, người Nghi Lộc, Nghệ An; nhà nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, dịch giả văn học Nga nổi tiếng với các bản dịch truyện ngắn Sê-khốp, Đa-ghe-xtan của tôi, Cánh buồm đỏ thắm; từng đứng đầu một viện nghiên cứu lớn về văn hóa nghệ thuật.
- Xuất xứ: SGK dẫn theo cuốn Một góc nhìn của tri thức, tập một (NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2002); văn bản được viết vào thời điểm thế kỉ XXI sắp bắt đầu.
- Thể loại: nghị luận về một vấn đề xã hội – văn hóa.
- Luận đề: toàn cầu hóa cùng ảnh hưởng hai mặt của nó tới bản sắc văn hóa dân tộc; thái độ cần có trước quá trình ấy.
- Bố cục: ba phần được đánh số.
- Phần 1: toàn cầu hóa là gì, có từ bao giờ, có gì mới so với sự giao lưu giữa các nước trước đây.
- Phần 2: toàn cầu hóa tác động hai mặt lên văn hóa nước ta: thời cơ và mặt trái.
- Phần 3: quan điểm của tác giả: chủ động đón nhận, phát huy sức mạnh nội sinh, tin tưởng vào bản lĩnh dân tộc.
- Nghệ thuật: lập luận chặt chẽ, nhìn vấn đề nhiều chiều; dẫn chứng phong phú từ lịch sử, báo chí và đời sống; ngôn ngữ chính luận sắc sảo, có những hình ảnh giàu sức gợi.
Soạn bài Toàn cầu hóa và bản sắc văn hóa dân tộc – Chuẩn bị (trang 142)
Phần chuẩn bị có hai yêu cầu: tìm hiểu tác giả và quan sát những đổi thay quanh em do giao lưu quốc tế đem lại.
Câu 1: Đọc trước văn bản, tìm hiểu thêm về tác giả Phan Hồng Giang (trang 142)
Trả lời:
Phan Hồng Giang (1941 – 2022) là người Nghệ An. Ông được biết đến trước hết như một dịch giả văn học Nga tài hoa; nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam làm quen với Sê-khốp, Gam-da-tốp, A. Grin qua bản dịch của ông. Bên cạnh đó, ông là nhà nghiên cứu, quản lí trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, viết nhiều bài về các vấn đề văn hóa đương đại. Văn bản trong SGK cho thấy cái nhìn tỉnh táo của một trí thức vừa am hiểu văn hóa thế giới vừa gắn bó với truyền thống dân tộc.
Câu 2: Những thay đổi quanh em và ảnh hưởng của giao lưu quốc tế đến suy nghĩ, lối sống của em (trang 142)
Tìm hiểu bối cảnh xã hội từ đầu thế kỉ XX đến nay, em thấy cuộc sống quanh mình thay đổi như thế nào? Từ sự thay đổi ở một số lĩnh vực như Internet, truyền thông đại chúng, điện thoại di động, ca nhạc, thời trang… hãy trình bày, chia sẻ với các bạn về những ảnh hưởng và sự tác động của quá trình giao lưu quốc tế đến suy nghĩ và lối sống của cá nhân em.
Trả lời:
Những thay đổi dễ thấy:
- Internet và điện thoại di động: chỉ với chiếc điện thoại, em có thể học trực tuyến, tra cứu tài liệu nước ngoài, trò chuyện với bạn bè ở xa, xem tin tức toàn cầu ngay khi sự việc vừa xảy ra.
- Truyền thông, giải trí: phim ảnh, ca nhạc Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản phổ biến trong giới trẻ; các nền tảng video ngắn tạo ra xu hướng mới hằng ngày.
- Thời trang, ăn uống: quần áo, đồ ăn nhanh, đồ uống theo phong cách nước ngoài xuất hiện khắp nơi.
Ảnh hưởng đến bản thân (gợi ý):
- Tích cực: em được mở rộng hiểu biết, học ngoại ngữ thuận lợi, quen với cách làm việc nhóm, tư duy phản biện, ý thức bảo vệ môi trường, tôn trọng sự khác biệt.
- Tiêu cực cần tỉnh táo: dễ mất thời gian vì mạng xã hội, có lúc chạy theo trào lưu, thích hàng ngoại hơn hàng Việt, ít quan tâm đến dân ca, nghệ thuật truyền thống.
- Bài học: tiếp nhận có chọn lọc, vẫn giữ những nét đẹp như tiếng Việt trong sáng, lễ nghĩa gia đình, Tết cổ truyền.
Soạn bài Toàn cầu hóa và bản sắc văn hóa dân tộc – Câu hỏi trong khi đọc (trang 142 – 145)
Các câu hỏi bên lề giúp em lần theo mạch lập luận từ khái niệm đến tác động và quan điểm.
Câu 1: Toàn cầu hóa đã có từ khi nào? (trang 142)
Trả lời:
Tác giả đồng tình với ý kiến của nhà báo Rô-bớt J. Sa-mu-ơn-sân: “Toàn cầu hoá là cách gọi mới cho một quá trình cũ.” Theo đó, toàn cầu hóa đã bắt đầu từ mấy nghìn năm trước, khi các quốc gia, các vùng trên thế giới bắt đầu trao đổi hàng hóa, văn hóa với nhau. Bằng chứng là Con đường tơ lụa xuyên qua châu Á, các tuyến đường biển nối các châu lục từ khi con người có thuyền buồm, la bàn; ở nước ta, cách nay vài trăm năm, Hội An và Phố Hiến từng là những đô thị mở cửa đón thương nhân nước ngoài.
Câu 2: Toàn cầu hóa khác gì với giao lưu quốc tế? (trang 142)
Trả lời:
Toàn cầu hóa vẫn là giao lưu quốc tế, nhưng ở mức độ, tốc độ và quy mô “bùng nổ” trong vài chục năm gần đây, đến mức cần một tên gọi mới. Những biểu hiện của sự bùng nổ đó:
- Mạng thông tin phủ khắp thế giới.
- Thương mại được tự do hóa nhanh chóng.
- Các tập đoàn đa quốc gia sáp nhập trong tin học, truyền thông, sản xuất ô tô.
- Kinh tế, tài chính từng khu vực gắn kết thành một khối.
- Tất cả diễn ra sau thời Chiến tranh lạnh, cùng sự phát triển vũ bão của công nghệ.
Riêng trên lĩnh vực văn hóa, quá trình này càng sôi động, được báo chí, truyền hình và công nghiệp giải trí tiếp sức.
Câu 3: Mở đầu của phần 2 nêu lên vấn đề gì? (trang 143)
Trả lời:
Mở đầu phần 2 nêu tính hai mặt của toàn cầu hóa. Mượn lời Sa-mu-ơn-sân, người viết gọi nó là “thanh gươm hai lưỡi”: một mặt giúp kinh tế tăng tốc, đem công nghệ mới đến với mọi nước dù giàu hay nghèo; mặt kia lại có thể xâm phạm chủ quyền, làm mai một văn hóa, truyền thống địa phương và gây bất ổn. Từ đó, ông khẳng định văn hóa chính là nơi hai mặt ấy hiện ra rõ nhất.
Câu 4: Đoạn này nêu lên tác động gì của toàn cầu hóa? (trang 143)
Trả lời:
Đoạn văn nêu tác động tích cực của giao lưu văn hóa, tức mặt thuận của toàn cầu hóa:
- Văn hóa Việt Nam không chỉ được hun đúc qua bao đời dựng nước, giữ nước mà còn nhờ biết tiếp nhận cái hay của nhiều nền văn minh khác.
- Ở thế kỉ XX, lòng yêu nước của dân tộc kết hợp với lí tưởng xã hội chủ nghĩa, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với học thuyết Mác – Lê-nin, và điều đó đã làm thay đổi căn bản vận mệnh dân tộc. Đó là minh chứng thuyết phục cho mặt tích cực của giao lưu.
Câu 5: Chú ý những ý nêu trong ngoặc đơn (trang 143)
Trả lời:
Trong đoạn nói về thời cơ để nước ta mở cửa “đón nắng gió”, tác giả đặt sau mỗi thời cơ một ý trong ngoặc đơn:
- Tăng tính hiện đại → để gạt bỏ cái cổ hủ, thủ cựu sinh ra từ nền sản xuất nhỏ, manh mún.
- Làm giàu thêm tính nhân văn, tinh thần dân chủ và quốc tế → để xóa dần tàn dư tư tưởng phong kiến, gia trưởng.
- Tiếp thu tính công nghiệp, khoa học, kỉ cương → để từ bỏ lối sống chỉ biết lệ làng mà xem nhẹ phép nước, thói lề mề, chè chén, phí thời gian.
Tác dụng: các ý trong ngoặc đơn giải thích mục đích của từng thời cơ, đồng thời chỉ thẳng những hạn chế của văn hóa truyền thống cần khắc phục. Nhờ vậy, người đọc thấy tác giả không ca ngợi truyền thống một chiều mà nhìn nhận khách quan cả điểm yếu của dân tộc.
Câu 6: Chú ý câu chuyển đoạn (trang 144)
Trả lời:
Câu chuyển đoạn là câu mở đầu đoạn bàn về mặt trái, có ý: bên cạnh mặt thuận, chúng ta phải đặc biệt chú ý tới mặt nghịch của toàn cầu hóa. Câu văn vừa khép lại phần bàn về thời cơ vừa mở sang phần bàn về mặt trái, giúp mạch lập luận chuyển hướng tự nhiên. Nó còn chỉ ra hoàn cảnh khiến mặt nghịch dễ phát triển: toàn cầu hóa diễn ra cùng lúc với việc nước ta mở cửa và chuyển sang kinh tế thị trường, nên những mặt tiêu cực của hai quá trình gặp nhau như hạt giống gặp đất tốt.
Câu 7: Chú ý bằng chứng về tác động của toàn cầu hóa đến văn hóa (trang 144)
Trả lời:
- Tệ nạn xã hội lan rộng: “Nhiều tệ nạn xã hội phát triển như các đại dịch thời Trung cổ.”
- Chỉ trong hơn mười năm, ở các đô thị đã lan rộng lối sống thực dụng: ham tiện nghi, coi đồng tiền là trên hết, chuộng hàng ngoại, xem nhẹ lí tưởng và đạo đức truyền thống.
- Lễ hội, biểu diễn nghệ thuật bị thương mại hóa.
- Giới trẻ hâm mộ ca nhạc phương Tây trong khi chèo, tuồng, cải lương vắng khán giả: “Lớp trẻ lớn lên, nhiều em không còn biết hát dân ca, các bà mẹ không còn biết hát ru”.
- Lối ăn chơi sống gấp, xa hoa bằng đồng tiền không do lao động làm ra không còn hiếm.
Các bằng chứng cụ thể, gần gũi, ai cũng có thể kiểm chứng trong đời sống, nên lời cảnh báo có sức thuyết phục.
Câu 8: Điều gì là tác động đáng lo nhất? (trang 145)
Trả lời:
Theo tác giả, điều đáng lo hơn cả các hiện tượng tha hóa là xã hội chưa có tiếng nói phê phán đủ sức chặn đứng chúng. Vì thế những chuyện “đồi phong bại tục” cứ ngang nhiên tồn tại, còn thái độ làm ngơ kiểu “mũ ni che tai” thực chất là tiếp tay cho cái xấu. Bao trùm lên tất cả là tình trạng con người mất niềm tin: nhiều người mất lí tưởng, mất phương hướng, sa vào mê tín dị đoan (như cảnh xe nối hàng cây số đi xin lễ ở đền Bà Chúa Kho, Bắc Ninh).
Câu 9: Chú ý quan điểm của tác giả về toàn cầu hóa (trang 145)
Trả lời:
- Toàn cầu hóa là tất yếu, khách quan, có mặt ở khắp các nước; chẳng dân tộc nào tự cô lập mà tránh được.
- Thái độ đúng là chủ động đón nhận: “Điều quan trọng là chủ động đón nhận nó, có những đối sách thích hợp để phát huy mặt tích cực, hạn chế các tiêu cực mà nó có thể mang lại.”
- Dân tộc phải như một cơ thể khỏe mạnh, tự tìm trong mình “những sức mạnh nội sinh” để đứng vững.
- Tác giả tin tưởng: trong lịch sử, dân tộc ta luôn biết nắm thời cơ, vượt qua thử thách và sẽ đứng vững trong thế kỉ mới.
Soạn bài Toàn cầu hóa và bản sắc văn hóa dân tộc – Câu hỏi sau khi đọc (trang 146)
Sáu câu hỏi sau khi đọc yêu cầu em khái quát luận đề, luận điểm, đánh giá sức thuyết phục và liên hệ với cuộc sống.
Câu 1: Xác định luận đề và các luận điểm lớn (trang 146)
Trả lời:
Luận đề: toàn cầu hóa và tác động của nó đối với bản sắc văn hóa dân tộc.
Các luận điểm lớn (ứng với ba phần):
- Luận điểm 1: toàn cầu hóa là tên gọi mới của một quá trình giao lưu đã có từ lâu, nay diễn ra với quy mô bùng nổ.
- Luận điểm 2: toàn cầu hóa tác động hai mặt tới văn hóa nước ta: mở ra nhiều thời cơ, song mặt trái của nó đang làm xói mòn các giá trị truyền thống.
- Luận điểm 3: cần chủ động đón nhận toàn cầu hóa, có đối sách phù hợp, dựa vào sức mạnh nội sinh và tin vào bản lĩnh văn hóa dân tộc.
Câu 2: Mục đích của người viết và mối liên hệ giữa nhan đề với mục đích (trang 146)
Trả lời:
- Mục đích: giúp người đọc hiểu đúng bản chất của toàn cầu hóa, nhìn rõ cả cơ hội lẫn nguy cơ đối với văn hóa, từ đó có thái độ chủ động, tỉnh táo; đồng thời cảnh báo những biểu hiện xuống cấp và khẳng định niềm tin vào sức sống văn hóa Việt.
- Nhan đề: đặt hai khái niệm toàn cầu hóa và bản sắc văn hóa dân tộc cạnh nhau bằng chữ “và”, gợi mối quan hệ vừa tương tác vừa giằng co giữa chúng. Đó cũng chính là điều tác giả muốn người đọc suy nghĩ: hội nhập thế nào mà vẫn giữ được mình.
Câu 3: Phân tích tính thuyết phục qua việc triển khai luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng (trang 146)
Trả lời:
- Trình tự hợp lí: đi từ giải thích khái niệm (là gì) đến phân tích tác động (ảnh hưởng ra sao) rồi đề xuất thái độ (cần làm gì). Người đọc được dẫn dắt từng bước, không bị áp đặt.
- Nhìn vấn đề hai chiều: tác giả không bài xích cũng không tung hô toàn cầu hóa. Ông dẫn ý kiến của nhà báo Thái Bảo để nhắc rằng mặt tích cực thường ít được nhấn mạnh, rồi mới bàn về mặt tiêu cực. Cách nhìn công bằng ấy tạo niềm tin nơi người đọc.
- Lí lẽ sắc bén: chỉ ra nguyên nhân sâu xa (mặt xấu của hội nhập cộng hưởng với mặt xấu của kinh tế thị trường), phân biệt hiện tượng với điều đáng lo hơn (thiếu dư luận phê phán), khái quát thành nguy cơ bao trùm (khủng hoảng lòng tin).
- Bằng chứng đa dạng: từ lịch sử thế giới (Con đường tơ lụa), lịch sử dân tộc (Hội An, Phố Hiến, sự gặp gỡ với chủ nghĩa Mác – Lê-nin), ý kiến chuyên gia, báo chí (Sa-mu-ơn-sân, Thái Bảo) đến hiện tượng đời thường (nhiều em nhỏ không còn thuộc dân ca, dòng xe nối dài trên đường đi xin lễ ở đền Bà Chúa Kho).
- Kết thúc bằng niềm tin: khép lại bằng sự tin tưởng vào bản lĩnh văn hóa lâu đời, tạo sức lay động sau những phân tích nghiêm khắc.
Câu 4: Câu văn thể hiện tính khẳng định, phủ định, cách lập luận và ngôn ngữ biểu cảm (trang 146)
Trả lời:
- Tính khẳng định: “Có thể nói, lĩnh vực văn hoá là lĩnh vực chịu tác động hai mặt, dễ nhận thấy nhất của quá trình toàn cầu hoá.” Cụm “có thể nói” kết hợp với từ “nhất” thể hiện nhận định chắc chắn nhưng vẫn mềm mỏng.
- Tính phủ định: tác giả phủ nhận khả năng bất cứ dân tộc nào đứng ngoài, tránh được quá trình này nhờ chủ nghĩa biệt lập; phủ định tuyệt đối để khẳng định tính tất yếu của toàn cầu hóa.
- Cách lập luận: câu nêu luận điểm rồi giải thích bằng so sánh: toàn cầu hóa như “thanh gươm hai lưỡi”; dân tộc như một cơ thể khỏe mạnh có sức đề kháng với bệnh tật. Lập luận bằng so sánh giúp vấn đề trừu tượng trở nên dễ hiểu.
- Ngôn ngữ biểu cảm: những hình ảnh và từ ngữ giàu sắc thái như tệ nạn như “các đại dịch thời Trung cổ”, đồi phong bại tục tồn tại như “chọc tức”, “trêu ngươi” mọi người, mê tín “sinh sôi như nấm sau mưa”; dấu chấm than và lời bình “minh chứng đáng buồn”. Chúng bộc lộ nỗi lo âu, bức xúc của người viết.
Câu 5: Ý nghĩa của vấn đề đối với cuộc sống hiện nay (trang 146)
Trả lời:
Văn bản ra đời khi thế kỉ XXI sắp đến, nhưng vấn đề càng có ý nghĩa hơn ở thời điểm hiện nay. Mạng Internet, mạng xã hội, các nền tảng giải trí xuyên biên giới khiến văn hóa nước ngoài đến với từng người, từng gia đình nhanh hơn bao giờ hết. Bài viết giúp chúng ta:
- Không sợ hãi, không khép mình trước toàn cầu hóa mà biết tận dụng để học hỏi tri thức, công nghệ, lối làm việc khoa học.
- Tỉnh táo trước lối sống thực dụng, sùng ngoại, trào lưu độc hại trên mạng; biết phê phán cái xấu thay vì làm ngơ.
- Ý thức rằng bản sắc chỉ được giữ khi chính mỗi người hiểu và yêu văn hóa dân tộc: tiếng Việt, dân ca, lễ hội, nghệ thuật truyền thống. Nhiều bạn trẻ ngày nay đưa chất liệu dân gian vào âm nhạc, thời trang hiện đại là cách giữ gìn bản sắc đầy sáng tạo.
Câu 6: Em thích nhất đoạn văn nào trong văn bản? Vì sao? (trang 146)
Trả lời:
Em có thể chọn đoạn khác và giải thích theo cảm nhận riêng. Gợi ý:
Em thích nhất đoạn ở phần 3, nơi tác giả ví dân tộc với một cơ thể khỏe mạnh, phải tự khơi dậy nguồn lực từ bên trong để vượt qua thử thách. Sau những trang phân tích mặt trái khá nặng nề, đoạn văn này đem lại một hướng đi rõ ràng: không thể chống toàn cầu hóa bằng cách đóng cửa, cũng không thể trông chờ vào ai khác, mà phải làm cho chính nền văn hóa của mình khỏe lên. Hình ảnh so sánh giản dị nhưng sâu sắc: một người khỏe mạnh không cần sống trong lồng kính vẫn tránh được bệnh tật. Đoạn văn khiến em hiểu rằng giữ gìn bản sắc không phải là việc riêng của nhà nghiên cứu, mà bắt đầu từ việc mỗi học sinh hiểu lịch sử, trân trọng tiếng Việt, biết tự hào về những giá trị của dân tộc mình.
Kết luận
Văn bản Toàn cầu hóa và bản sắc văn hóa dân tộc của Phan Hồng Giang là bài nghị luận có cái nhìn nhiều chiều về một vấn đề lớn của thời đại. Khi soạn bài, em cần nắm luận đề, ba luận điểm ứng với ba phần, cách tác giả nhìn nhận cả thời cơ lẫn thách thức, hệ thống lí lẽ và bằng chứng phong phú, cùng thông điệp: chủ động hội nhập, dựa vào sức mạnh nội sinh để giữ vững bản sắc.
Xem thêm: