Yếu tố tượng trưng là những hình ảnh, chi tiết, âm thanh cụ thể trong thơ được nhà thơ dùng để gợi ra một ý niệm, một tâm trạng hay một suy tưởng trừu tượng mà lời nói thẳng khó chạm tới. Người đọc thấy cái hữu hình trên trang giấy, còn nghĩa thật nằm ở phía sau nó. Thơ có yếu tố tượng trưng là kiểu thơ học sinh gặp nhiều ở Ngữ văn 11, qua các bài của Xuân Diệu, Văn Cao.
| Khái niệm | Hình ảnh, chi tiết cụ thể gợi ra ý niệm trừu tượng, cảm xúc mơ hồ |
| Nghĩa của chữ “tượng trưng” | Lấy một vật cụ thể để đại diện, gợi nhắc một điều khác lớn hơn nó |
| Thuộc | Thi pháp thơ, phần đọc hiểu thơ trữ tình hiện đại |
| Dấu hiệu nhận biết | Hình ảnh mang nghĩa biểu tượng, chuyển đổi cảm giác, nhạc điệu, cảm giác mơ hồ khó nói hết |
| Học ở | Ngữ văn 11 cả ba bộ sách (Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo, Cánh diều) |

Yếu tố tượng trưng nhìn từ một rặng liễu
Trong Đây mùa thu tới, Xuân Diệu không tả cây liễu như một nhà thực vật. Rặng liễu của ông “đứng chịu tang”. Không ai tin cái cây biết để tang, nhưng chỉ với hình ảnh ấy, cả một không gian buồn, một nỗi tiễn biệt mùa hạ hiện ra. Cái cây vẫn là cây, có điều nó đã gánh thêm một tầng nghĩa khác. Đó chính là cách một yếu tố tượng trưng làm việc.
Sách Ngữ văn 11 mỗi bộ diễn đạt một kiểu, nhưng cùng một ý. Bộ Cánh diều coi đó là những hình ảnh mang tính biểu tượng, gợi cho người đọc một ý niệm hoặc một liên tưởng sâu xa. Bộ Chân trời sáng tạo nhấn vào chỗ chi tiết thì cụ thể, gợi cảm, mà ý gợi ra lại trừu tượng, giàu tính triết lí. Bộ Kết nối tri thức thêm một vế quan trọng: nhà thơ còn phối hợp âm tiết, thanh điệu, nhịp điệu để khơi lên những cảm giác bất định, mơ hồ.
Gốc xa của lối viết này là trào lưu thơ tượng trưng ở Pháp cuối thế kỉ XIX, với Baudelaire, Verlaine, Rimbaud, Mallarmé. Thơ của họ chuộng gợi hơn tả, chuộng nhạc hơn kể. Một số nhà Thơ mới Việt Nam giai đoạn 1930–1945 chịu ảnh hưởng thi pháp ấy, rõ ở Xuân Diệu và trong thế giới thơ đầy biểu tượng của Bích Khê.
Tượng trưng, biểu tượng và ẩn dụ khác nhau ở đâu?
Ba khái niệm này hay bị trộn vào nhau trong bài làm. Có thể tách bằng bảng sau.
| Tiêu chí | Ẩn dụ | Biểu tượng | Yếu tố tượng trưng trong thơ |
|---|---|---|---|
| Bản chất | Một biện pháp tu từ: gọi sự vật này bằng tên sự vật khác có nét giống | Một hình ảnh đã được cộng đồng gán nghĩa ổn định (bồ câu là hòa bình) | Hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu được nhà thơ dùng để gợi một ý niệm, thường mơ hồ, nhiều chiều |
| Phạm vi | Thường gói trong một từ, một câu | Có thể dùng ở mọi nơi, không riêng thơ | Thấm vào cả bài, tạo thành không khí chung |
| Cách giải nghĩa | Tìm nét tương đồng là giải được | Nghĩa gần như có sẵn | Nghĩa mở, mỗi người đọc cảm một ít khác nhau |
Ẩn dụ vẫn là công cụ hay gặp nhất bên trong thơ tượng trưng, đặc biệt là kiểu chuyển đổi cảm giác. Nếu cần ôn lại các kiểu chuyển nghĩa, xem bài ẩn dụ chuyển đổi cảm giác và các kiểu ẩn dụ khác. Điểm khác nằm ở đích đến: ẩn dụ giúp câu văn hàm súc hơn, còn yếu tố tượng trưng muốn đưa người đọc vào một trạng thái, một ý niệm không gọi được tên.
Bốn dấu hiệu để nhận ra trong bài thơ
- Hình ảnh “lệch” khỏi nghĩa thường. Cây biết để tang, trăng nhập vào dây đàn, câu thơ “còn xanh”. Khi một hình ảnh không thể hiểu theo nghĩa đen mà vẫn khiến mình rung động, nhiều khả năng nó đang mang nghĩa tượng trưng.
- Các giác quan đổi chỗ cho nhau. Nghe thấy cái lạnh, nhìn thấy âm thanh, sờ thấy ánh trăng. Đây là kiểu tương giao cảm giác mà Baudelaire đề cao, và lời giải sách bài tập Cánh diều cũng coi chuyển đổi cảm giác là chỗ yếu tố tượng trưng lộ rõ nhất.
- Nhạc điệu được chăm chút khác thường. Điệp từ, điệp vần, câu thơ ngắt quãng, nhịp chậm hay dồn. Âm thanh ở đây làm việc của cảm xúc, chứ chẳng phải để đọc cho êm tai.
- Đọc xong khó tóm tắt nội dung. Bài thơ để lại một tâm trạng nhiều hơn một câu chuyện. Đề Kết nối tri thức gợi ý chính ba hướng này: xem hình ảnh, nghe nhịp điệu, rồi tìm tâm tư nhà thơ gửi vào.
Đọc chậm ba bài thơ trong Ngữ văn 11
Cái lạnh có thể “nghe” được trong Đây mùa thu tới
Câu thơ “Đã nghe rét mướt luồn trong gió” là ví dụ quen thuộc. Rét là cảm giác của da thịt, vậy mà ở đây được nghe, lại còn biết “luồn” như một vật có hình dạng. Gió và rét vốn đi liền, Xuân Diệu tách chúng ra, để cái rét trở thành một thứ ẩn hiện, len lỏi. Mùa thu trong bài vì thế là một cảm giác chớm buồn, chớm mất mát, hơn là chuyện thời tiết. Bài hướng dẫn đọc hiểu Đây mùa thu tới bộ Cánh diều có phân tích kĩ hình ảnh rặng liễu ở khổ đầu.
Trăng, đàn và nước mắt trong Nguyệt cầm
Ngay khổ đầu, trăng nhập vào dây đàn: ánh sáng, âm thanh và cái lạnh hòa vào nhau thành một. Không thể tách đâu là trăng, đâu là tiếng nhạc. Đây là chỗ thơ Xuân Diệu gần nhất với quan niệm tương giao của thơ tượng trưng Pháp. Cái đọng lại sau bài không phải một đêm trăng cụ thể mà là nỗi cô đơn, buồn thương ngân dài như tiếng đàn. Xem thêm phần soạn Nguyệt cầm theo sách Chân trời sáng tạo.
Màu xanh của câu thơ trong Thời gian
Bài thơ của Văn Cao mở bằng thời gian trôi qua kẽ tay, làm khô những chiếc lá; kỉ niệm rơi như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn. Rồi bất ngờ một đoạn ngắn, gần như chỉ có điệp ngữ:
Riêng những câu thơ
còn xanh
Riêng những bài hát
còn xanh
Câu thơ không có màu. “Xanh” ở đây là màu của sự sống, của cái chưa bị thời gian làm khô héo. Một chữ màu sắc đã gói cả niềm tin vào sức sống của nghệ thuật. Nhịp thơ ngắn, ngắt dòng, cũng làm chữ “xanh” vang lâu hơn. Phần soạn bài Thời gian của Văn Cao trình bày đủ bố cục và các câu hỏi trong sách.
Luyện tập nhận diện, có đáp án
Câu 1: Trong câu “Đã nghe rét mướt luồn trong gió”, yếu tố tượng trưng nằm ở những từ nào?
Đáp án: Ở chữ “nghe” và chữ “luồn”. Cảm giác lạnh (xúc giác) được chuyển sang thính giác và thị giác, biến cái rét thành thứ có hình dạng, chuyển động. Câu thơ gợi cảm giác mùa thu đang đến rất khẽ, kèm một nỗi buồn mơ hồ.
Câu 2: Chỉ ra đâu là ẩn dụ thông thường, đâu là hình ảnh mang tính tượng trưng: (a) “Bà tôi là cây cổ thụ của cả nhà”; (b) một bài thơ lặp đi lặp lại hình ảnh tiếng chuông chiều tan dần.
Đáp án: (a) là ẩn dụ: chỉ cần tìm nét giống (che chở, lâu năm) là giải được. (b) mang tính tượng trưng: tiếng chuông tan dần có thể gợi sự trôi qua của thời gian, sự chia lìa, nỗi cô đơn; nghĩa mở và lan khắp bài.
Câu 3: Vì sao “còn xanh” trong bài Thời gian không thể hiểu theo nghĩa đen?
Đáp án: Vì câu thơ, bài hát không có màu sắc. “Xanh” là biểu tượng của sự sống, tuổi trẻ, cái bền lâu. Nhà thơ dùng nó để khẳng định nghệ thuật đứng ngoài sự tàn phá của thời gian.
Câu 4: Kể ra ba dấu hiệu em dựa vào để nhận diện thơ có yếu tố tượng trưng.
Đáp án tham khảo: Hình ảnh mang nghĩa biểu tượng vượt khỏi nghĩa đen; sự chuyển đổi, hòa lẫn các giác quan; nhạc điệu (điệp, nhịp, vần) tạo cảm giác mơ hồ. Có thể thêm: bài thơ để lại một tâm trạng khó tóm tắt thành nội dung cụ thể.
Câu 5: Viết 3–4 câu tả một buổi chiều, trong đó có một hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng.
Đáp án tham khảo: “Chiều xuống chậm trên sân trường đã vắng. Chiếc ghế đá cuối dãy vẫn ngồi đó, như còn đợi một người không quay lại. Gió thổi qua, tiếng lá khô nghe như ai gấp lại một trang vở cũ.” Chiếc ghế đá đợi người và tiếng lá như trang vở gấp lại cùng gợi nỗi chia tay tuổi học trò, không cần nói ra chữ “buồn”.
Lỗi hay gặp nhất khi làm phần này là liệt kê một loạt hình ảnh rồi gắn nhãn “tượng trưng” cho tất cả. Chọn một hình ảnh, giải cho tới nơi nó gợi điều gì, bài sẽ thuyết phục hơn nhiều.
Tượng trưng trong đề đọc hiểu và bài nghị luận
Thơ có yếu tố tượng trưng là gì, có phải là thơ tượng trưng không?
Chưa hẳn. Thơ tượng trưng theo nghĩa hẹp là một trường phái ở Pháp. Thơ có yếu tố tượng trưng rộng hơn: một bài thơ Việt Nam có thể vẫn là thơ lãng mạn nhưng mượn một số thủ pháp tượng trưng, như nhiều bài của Xuân Diệu.
Tượng trưng là gì khi tách khỏi văn học?
Theo nghĩa thông thường, tượng trưng là dùng một sự vật cụ thể để đại diện cho một điều khác: lá cờ cho đất nước, cành ô liu cho hòa bình. Trong thơ, nghĩa được gợi ra thường mở hơn và riêng của từng bài.
Mọi hình ảnh thơ đều mang tính tượng trưng, vậy phân biệt thế nào?
Đúng là hình ảnh thơ nào cũng ít nhiều gợi nghĩa. Bài có yếu tố tượng trưng khác ở mức độ: hình ảnh được tô đậm tính biểu tượng, phối hợp với nhạc điệu, tạo thành không khí mơ hồ cho cả bài chứ không chỉ một câu.
Viết đoạn phân tích yếu tố tượng trưng trong thơ nên bắt đầu từ đâu?
Bắt đầu từ một hình ảnh cụ thể, nêu nghĩa đen của nó, rồi chỉ ra vì sao không thể dừng ở nghĩa đen. Tiếp theo nói nó gợi ý niệm gì, gắn với tâm trạng nhà thơ ra sao. Cách triển khai này cũng giống khi tìm tứ thơ và mạch cảm xúc của bài.