Chủ nghĩa tượng trưng là trào lưu thơ ca và nghệ thuật hình thành ở Pháp, Bỉ vào cuối thế kỉ XIX, chủ trương dùng hình ảnh, âm thanh, màu sắc để gợi ra những cảm giác mơ hồ và một thế giới khó gọi tên, thay vì tả thẳng hiện thực. Ở Việt Nam, tên trào lưu này hay đi liền với siêu thực thành cụm “tượng trưng, siêu thực” khi bàn về một nhánh của phong trào Thơ mới.
| Nghĩa ngắn | Trào lưu văn học coi trọng sự gợi, nhạc tính và biểu tượng đa nghĩa |
| Tên gốc | Tiếng Pháp symbolisme, tiếng Anh Symbolism |
| Thời gian | Cuối thế kỉ XIX, sôi nổi nhất từ sau năm 1886 |
| Dấu hiệu nhận biết | Hình ảnh mờ ảo, cảm giác giao thoa (nghe ra màu, thấy ra tiếng), câu thơ giàu âm nhạc |
| Ở Việt Nam | Ảnh hưởng tới Thơ mới, rõ nhất ở nhóm thơ Bình Định và một số bài của Xuân Diệu |

Chủ nghĩa tượng trưng ra đời từ đâu?
Paris những năm 1880 có một lớp thi sĩ trẻ chán hai thứ cùng lúc: tiểu thuyết tự nhiên chủ nghĩa ghi chép đời sống tỉ mỉ như biên bản, và lối thơ chăm chút hình thức đến mức lạnh. Họ muốn thơ quay về với cái bên trong con người, với những rung động không nói rõ được bằng lời thường.
Người ta hay lấy tập Những bông hoa ác (Les Fleurs du mal, 1857) của Baudelaire làm điểm xuất phát. Ba gương mặt đi sau là Verlaine, Rimbaud và Mallarmé, mỗi người kéo trào lưu về một hướng: Verlaine đòi âm nhạc trước hết, Rimbaud đẩy cảm giác tới chỗ hỗn loạn có chủ ý, Mallarmé theo đuổi thứ thơ kín, nghĩa phải đoán dần. Mốc được nhắc nhiều nhất là ngày 18 tháng 9 năm 1886, khi nhà thơ Jean Moréas đăng trên báo Le Figaro bài viết thường được coi là tuyên ngôn của trào lưu; tên gọi “tượng trưng” từ đó mới dùng rộng rãi.
Chữ “tượng trưng” ở đây khác cách dùng thông thường. Trong đời sống, chim bồ câu tượng trưng cho hòa bình là một quy ước ai cũng hiểu như nhau. Còn biểu tượng của các nhà thơ tượng trưng thì không có đáp án cố định: một tiếng chuông, một làn sương có thể gợi cho mỗi người đọc một nỗi niềm khác. Muốn phân biệt kĩ hai lớp nghĩa này, xem thêm bài khái niệm biểu tượng trong văn học.
Năm nét làm nên một bài thơ tượng trưng
- Gợi hơn tả. Ý tưởng hay được gắn với Mallarmé là gọi thẳng tên sự vật thì bài thơ mất phần lớn cái thú; thơ phải để người đọc đoán dần, như vén từng lớp màn.
- Giao thoa giác quan. Âm thanh có màu, hương có tiếng, màu có nhiệt độ. Các nhà thơ tượng trưng coi trọng những “tương giao” như vậy, tiếng Pháp gọi là correspondances.
- Nhạc tính. Câu thơ được chăm chút về vần, nhịp, điệp âm, có khi âm thanh còn quan trọng hơn nghĩa của từng chữ.
- Thế giới bên kia cái thấy. Đằng sau cảnh vật luôn có một cõi khác, có thể là cõi mộng, cõi tâm linh hay cõi chết, mà nhà thơ chỉ chạm tới được bằng biểu tượng.
- Cái tôi cô đơn, u uất. Nhiều bài thơ mang tâm trạng buồn chán, mệt mỏi, khắc khoải của con người cuối thế kỉ, không còn niềm tin chắc chắn vào thế giới quanh mình.
Không phải bài thơ nào có một hình ảnh tượng trưng cũng thuộc trào lưu này. Thơ dân gian, thơ cổ điển đều dùng biểu tượng. Điểm khác là ở đây, sự mơ hồ được chọn làm nguyên tắc sáng tác. Ở mức một bài thơ cụ thể, sách Ngữ văn 11 dùng cách gọi hẹp hơn là thơ có yếu tố tượng trưng trong thơ.
Tượng trưng nối sang siêu thực thế nào?
Khi trào lưu tượng trưng lắng xuống vào đầu thế kỉ XX, nhiều mầm của nó được chủ nghĩa siêu thực nhận lấy. Siêu thực có tuyên ngôn của André Breton năm 1924 và đi xa hơn một bước: không dừng ở việc gợi giấc mơ mà muốn ghi lại chính vô thức, kể cả bằng lối viết để mặc tay chạy. Bài siêu thực là gì và cách nhận biết đã nói riêng về trào lưu này; bảng dưới chỉ đặt hai bên cạnh nhau.
| Tiêu chí | Tượng trưng | Siêu thực |
|---|---|---|
| Thời gian | Cuối thế kỉ XIX | Từ những năm 1920 |
| Nhà thơ tiêu biểu | Baudelaire (người mở đường), Verlaine, Rimbaud, Mallarmé | André Breton (người viết tuyên ngôn) và nhóm bạn ở Paris |
| Cái nhà thơ tìm | Cõi bí ẩn sau sự vật, chạm tới bằng biểu tượng | Vô thức, giấc mơ, những liên tưởng phi lôgic |
| Cách viết | Chọn lọc kĩ, chăm chút âm nhạc | Ghép hình ảnh bất ngờ, có khi để tiềm thức dẫn dắt |
| Cảm giác khi đọc | Mơ hồ, man mác, ngân nga | Lạ, đứt gãy, có khi rợn |
Ranh giới hai trào lưu không tuyệt đối, nên giới nghiên cứu Việt Nam hay viết gộp “tượng trưng, siêu thực” khi nói về những nhà thơ chịu ảnh hưởng cả hai. Còn so với tinh thần lãng mạn trong văn chương, cả tượng trưng lẫn siêu thực đều ít bộc bạch trực tiếp hơn: cảm xúc được giấu sau hình ảnh.
Bóng dáng tượng trưng trong Thơ mới
Phong trào Thơ mới (1932–1945) học nhiều ở thơ Pháp, và chủ nghĩa tượng trưng là một trong những nguồn đó. Rõ nhất là nhóm nhà thơ ở Bình Định thường được gọi là trường thơ Loạn, do Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan khởi xướng; thơ Bích Khê cũng thường được xếp cùng phong cách ấy. Các nhà nghiên cứu nhắc nhiều tới ảnh hưởng của Baudelaire lên nhóm này; Bích Khê còn tôn Baudelaire là “vua thi sĩ”.
Bích Khê và tập Tinh huyết
Thơ Bích Khê được giới phê bình coi là đậm chất tượng trưng hơn cả: màu sắc chói lọi hoặc huyền ảo, âm thanh ngân nga, nhiều bài khó hiểu đến mức người đọc phải nghe trước rồi mới hiểu sau. Học sinh lớp 9 gặp ông qua bài soạn bài Tiếng đàn mưa của Bích Khê, nơi tiếng mưa và tiếng đàn hòa làm một. Chân dung đầy đủ hơn có trong bài nhà thơ Bích Khê và tiếng đàn tượng trưng.
Hàn Mặc Tử: trăng, hồn và máu
Ở Hàn Mặc Tử, những hình ảnh trăng, hồn, máu lặp đi lặp lại không còn là cảnh vật, mà thành biểu tượng của một tâm hồn vừa khao khát vừa đau đớn. Thơ ông cuối đời đi sang vùng siêu thực rõ hơn, nên ông thường được nhắc ở cả hai trào lưu. Bài phong cách sáng tác của Hàn Mặc Tử nói kĩ hơn về chặng chuyển này.
Xuân Diệu và Nguyệt cầm
Xuân Diệu thường được xếp vào dòng lãng mạn, nhưng Nguyệt cầm lại là bài hay được chọn để dạy về yếu tố tượng trưng: trăng, đàn, nước, sương lạnh quyện vào nhau thành một nỗi buồn không rõ hình. Phần đọc hiểu nằm trong bài soạn bài Nguyệt cầm lớp 11.
Luyện tập nhận diện chủ nghĩa tượng trưng
Câu 1: Chủ nghĩa tượng trưng hình thành ở đâu, vào khoảng thời gian nào?
Đáp án: Ở Pháp và Bỉ, cuối thế kỉ XIX. Mốc thường nhắc là bài tuyên ngôn của Jean Moréas trên báo Le Figaro năm 1886; tập Những bông hoa ác (1857) của Baudelaire được coi là tiền đề.
Câu 2: Kể tên bốn nhà thơ Pháp gắn với trào lưu tượng trưng.
Đáp án: Baudelaire (người mở đường), Verlaine, Rimbaud, Mallarmé.
Câu 3: Câu thơ tự viết sau có dùng lối giao thoa giác quan không: “Tiếng chuông chiều tím lại trên mái chùa”?
Đáp án: Có. Tiếng chuông là âm thanh nhưng được gán màu tím, tức âm thanh chuyển thành màu sắc. Đây là kiểu “tương giao” các nhà thơ tượng trưng ưa dùng.
Câu 4: Nêu một điểm khác nhau giữa tượng trưng và siêu thực.
Đáp án: Tượng trưng chọn lọc hình ảnh có chủ ý để gợi một cõi bí ẩn, câu thơ giàu nhạc tính; siêu thực muốn ghi lại vô thức và giấc mơ, ghép những hình ảnh phi lôgic, đứt gãy.
Lỗi hay gặp khi làm bài là thấy hình ảnh nào khó hiểu cũng gọi là “siêu thực”. Nếu hình ảnh ấy vẫn liền mạch, ngân nga và gợi một tâm trạng, nhiều khả năng đó là chất tượng trưng.
Tượng trưng trong giờ đọc thơ hiện đại
Chủ nghĩa tượng trưng siêu thực là gì?
Đây không phải tên một trào lưu riêng, mà là cách nói gộp hai trào lưu nối tiếp nhau: tượng trưng (cuối thế kỉ XIX) và siêu thực (từ những năm 1920). Ở Việt Nam, cụm này hay dùng cho thơ Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên thời Thơ mới.
Thơ tượng trưng là gì?
Là thơ sáng tác theo tinh thần chủ nghĩa tượng trưng: gợi hơn tả, giàu nhạc tính, dùng biểu tượng mơ hồ để chạm tới cảm giác và cõi bí ẩn. Nói “thơ có yếu tố tượng trưng” thì rộng hơn, chỉ cần bài thơ có vài hình ảnh mang tính tượng trưng.
Chủ nghĩa tượng trưng tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh là Symbolism, tiếng Pháp là symbolisme. Khi cần phân biệt với nghĩa thông thường của từ, sách tiếng Anh hay viết the Symbolist movement.
Thơ mới Việt Nam có phải thơ tượng trưng không?
Phần lớn Thơ mới thuộc dòng lãng mạn. Chất tượng trưng chỉ đậm ở một số tác giả và một số bài, nên khi viết bài nghị luận nên nói “chịu ảnh hưởng” hoặc “mang yếu tố tượng trưng” thay vì xếp cả phong trào vào trào lưu này.