Ẩn dụ là biện pháp tu từ gọi một sự vật, hiện tượng bằng tên của sự vật, hiện tượng khác có nét giống nó, để câu văn giàu hình ảnh và gợi cảm hơn. Có thể hình dung phép ẩn dụ như một phép so sánh đã giấu đi vế được so sánh: người đọc chỉ thấy hình ảnh thay thế và phải tự đoán ra điều tác giả muốn nói.
| Khái niệm | Gọi tên A bằng tên B vì A và B có nét tương đồng |
| Thuộc | Biện pháp tu từ từ vựng, nhóm chuyển nghĩa (cùng nhóm với hoán dụ) |
| Dấu hiệu nhận biết | Chỉ còn vế B, không có từ so sánh; hiểu theo nghĩa đen thì câu vô lí |
| Học ở | Ngữ văn 6 (cả ba bộ sách), ôn lại ở lớp 7, lớp 9 và các bài đọc hiểu thơ |

Khái niệm phép ẩn dụ trong sách Ngữ văn
Sách giáo khoa và sách bài tập Ngữ văn 6 định nghĩa ẩn dụ là cách “gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt”. Định nghĩa này khớp với phần yêu cầu cần đạt của Chương trình Ngữ văn 2018.
Ba bộ sách đưa ẩn dụ vào học kì I lớp 6 bằng ba văn bản khác nhau. Kết nối tri thức dùng bài thơ Mây và sóng của Ta-go (Bài 2, trang 47). Cánh diều cho học sinh tìm ẩn dụ trong bài thơ lục bát À ơi tay mẹ, nơi đứa con được gọi là “cái trăng vàng”, “cái Mặt Trời bé con”. Chân trời sáng tạo đặt ẩn dụ cạnh so sánh ở Bài 5, với ngữ liệu từ Lao xao ngày hè của Duy Khán.
Ghép hai chữ Hán lại cũng thấy được tinh thần của phép này: ẩn là giấu, dụ là ví. Nói ẩn dụ tức là ví von mà không lộ ra mình đang ví.
Nhận ra ẩn dụ bằng ba bước
Gặp một câu thơ, muốn biết có ẩn dụ hay không, các em thử đi theo thứ tự sau.
- Đọc theo nghĩa đen. Nếu nghĩa đen không hợp với ngữ cảnh (cây râm bụt thì không thể “thắp” lửa), đó là tín hiệu có chuyển nghĩa.
- Tìm vế bị giấu. Hình ảnh trên chữ là B. Hãy hỏi B đang đứng thay cho cái gì; câu trả lời là A.
- Gọi tên nét giống. A và B giống nhau ở hình dáng, màu sắc, cách hoạt động hay phẩm chất? Có nét giống là ẩn dụ; nếu chỉ là quan hệ gần gũi, đi liền nhau thì nhiều khả năng là hoán dụ.
Lưu ý: nếu câu có các từ như, là, tựa, giống như, bao nhiêu… bấy nhiêu và có đủ cả A lẫn B thì đó là so sánh. Ẩn dụ gọn hơn, chỉ để lại B.
Bốn kiểu ẩn dụ thường gặp
Cách chia bốn kiểu dưới đây có từ sách Ngữ văn 6 chương trình cũ và vẫn được dùng trong tài liệu ôn tập. Sách mới không bắt buộc gọi tên kiểu, riêng kiểu chuyển đổi cảm giác được nhắc lại ở Ngữ văn 7 Cánh diều.
| Kiểu | Dựa trên nét giống về | Ví dụ |
|---|---|---|
| Ẩn dụ hình thức | Hình dáng, màu sắc | “lửa hồng” chỉ màu đỏ của hoa râm bụt |
| Ẩn dụ cách thức | Cách làm, cách diễn ra | “ăn quả”, “trồng cây” trong câu tục ngữ quen thuộc |
| Ẩn dụ phẩm chất | Tính chất, giá trị bên trong | “mặt trời trong lăng” chỉ Bác Hồ |
| Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác | Cảm nhận của giác quan này được tả bằng từ của giác quan khác | “nắng giòn tan”, “tiếng rơi rất mỏng” |
Một hình ảnh có thể chứa hai kiểu cùng lúc. Trong câu thơ về hàng râm bụt ở mục sau, “lửa hồng” là ẩn dụ hình thức, còn chữ “thắp” là ẩn dụ cách thức, vì hoa nở đỏ dần lên giống như ngọn lửa được châm.
Ẩn dụ trong các bài thơ quen thuộc và tác dụng
Ví dụ trong sách giáo khoa thường ngắn, nhưng mỗi ví dụ cho thấy một lí do khác nhau để nhà thơ chọn cách nói gián tiếp.
Người Cha trong đêm không ngủ
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm.
Minh Huệ không gọi thẳng “Bác Hồ” mà gọi “Người Cha”. Bác và người cha giống nhau ở tấm lòng chăm lo, thương yêu, nên đây là ẩn dụ phẩm chất. Chữ “Cha” viết hoa vừa kính trọng vừa ấm áp, khiến cảnh Bác đốt lửa sưởi cho chiến sĩ gần như cảnh trong một gia đình. Đoạn thơ được phân tích kĩ trong bài soạn Đêm nay Bác không ngủ.
Hai mặt trời ở lăng Bác
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.
Viễn Phương đặt hai mặt trời cạnh nhau. Mặt trời thứ nhất là mặt trời thật. Mặt trời thứ hai là Bác: giống mặt trời ở chỗ soi đường và sưởi ấm. Nhờ phép ẩn dụ, người đọc cảm được sự vĩ đại và lòng tôn kính mà không cần một lời ca ngợi trực tiếp nào. Xem thêm ở bài soạn Viếng lăng Bác.
Hàng râm bụt thắp lửa
Về thăm nhà Bác làng Sen,
Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng.
Hai câu thơ của Nguyễn Đức Mậu là ví dụ kinh điển của ẩn dụ hình thức. Màu đỏ rực của hoa gợi ngọn lửa, khiến khu vườn quê Bác sáng lên và có hơi ấm.
Khi tai nghe được nắng
Trong Tiếng gà trưa, Xuân Quỳnh viết “Nghe xao động nắng trưa”: nắng vốn để nhìn, nhưng tiếng gà làm nắng như có tiếng động, có chuyển động. Đó là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, kiểu mà bài soạn Vẻ đẹp của bài thơ Tiếng gà trưa có hẳn một câu hỏi riêng.
Khi hình ảnh ẩn dụ khiến câu thơ nói ít mà gợi nhiều, người xưa gọi lối viết lời ngắn ý dài ấy là ý tại ngôn ngoại.
Ẩn dụ khác hoán dụ và so sánh ở đâu?
Ẩn dụ và hoán dụ đều gọi tên sự vật này bằng tên sự vật khác, nên học sinh hay đánh tráo. Mấu chốt nằm ở mối quan hệ giữa A và B.
| Tiêu chí | Ẩn dụ | Hoán dụ |
|---|---|---|
| Quan hệ giữa A và B | Tương đồng (giống nhau) | Gần gũi, đi liền nhau (bộ phận – toàn thể, vật chứa – vật bị chứa, dấu hiệu – sự vật…) |
| Câu hỏi để thử | A giống B ở điểm nào? | A gắn với B thế nào? |
| Ví dụ | “mặt trời trong lăng” = Bác | “áo chàm” = người Việt Bắc |
| Hiệu quả chính | Gợi hình, gợi cảm, kín đáo | Nhấn đặc điểm nổi bật, hàm súc |
Với so sánh, khác biệt nằm ở hình thức chứ không ở quan hệ: so sánh để lộ cả hai vế, ẩn dụ giấu vế A. Ôn tập học kì I lớp 6 Chân trời sáng tạo có bài vẽ sơ đồ giống – khác giữa hai phép này, xem ở ôn tập học kì I Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo.
Bài tập nhận biết ẩn dụ có đáp án
Câu 1: Tìm ẩn dụ trong câu ca dao sau và cho biết nét tương đồng.
Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
Đáp án: “Thuyền” chỉ người ra đi, “bến” chỉ người ở lại. Thuyền hay rời đi, bến đứng yên một chỗ; cũng như người đi xa và người một lòng chờ đợi. Lời ca dao vì thế kín đáo mà vẫn tha thiết.
Câu 2: Câu tục ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” dùng kiểu ẩn dụ nào?
Đáp án: Ẩn dụ cách thức. “Ăn quả” là hưởng thành quả, “trồng cây” là làm ra thành quả. Hai việc giống nhau ở cách diễn ra: có người gây dựng trước thì người sau mới được hưởng.
Câu 3: Trong câu thơ “Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” (Trần Đăng Khoa, Đêm Côn Sơn), ẩn dụ nằm ở đâu?
Đáp án: Ở chữ “mỏng”. Tiếng lá rơi được nghe bằng tai, nhưng nhà thơ tả nó bằng một từ vốn dùng cho thứ nhìn thấy, sờ thấy. Đây là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: âm thanh nhẹ đến mức như có hình dạng, cho thấy đêm Côn Sơn tĩnh lặng và người nghe tinh tế tới đâu.
Câu 4: Câu nào dùng ẩn dụ, câu nào dùng hoán dụ: (a) “Áo chàm đưa buổi phân li”; (b) “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”?
Đáp án: (a) là hoán dụ: áo chàm là trang phục quen thuộc của người Việt Bắc, lấy dấu hiệu bên ngoài để chỉ người, quan hệ gần gũi chứ không phải giống nhau. (b) là ẩn dụ phẩm chất: “mực” chỉ môi trường xấu, “đèn” chỉ môi trường tốt.
Câu 5: Viết một câu có dùng ẩn dụ để nói về thầy cô giáo.
Đáp án tham khảo: “Cô là người lái đò lặng lẽ, năm nào cũng đưa một chuyến khách sang sông.” Người lái đò là ẩn dụ chỉ thầy cô; nét giống là đưa người khác đến nơi cần đến rồi ở lại bến cũ.
Câu hỏi thường gặp về phép ẩn dụ
Biện pháp tu từ ẩn dụ là gì, nói gọn trong một câu?
Là gọi sự vật A bằng tên sự vật B vì A và B có nét giống nhau. Câu có ẩn dụ chỉ hiện ra B, người đọc tự suy ra A.
Biện pháp ẩn dụ là gì ở lớp 6 và lớp 7, có khác nhau không?
Khái niệm giữ nguyên. Lớp 6 tập trung nhận biết và nêu tác dụng; lên lớp 7 và các lớp trên, học sinh gặp ẩn dụ chủ yếu trong câu hỏi đọc hiểu thơ và cần phân tích sâu hơn, kể cả kiểu chuyển đổi cảm giác.
Phép ẩn dụ là gì khi đặt cạnh phép so sánh?
Có thể xem phép ẩn dụ là so sánh ngầm. So sánh nói “Bác như mặt trời”, ẩn dụ chỉ nói “mặt trời trong lăng”. Bớt đi vế A và từ so sánh nên câu thơ cô đọng, nhiều tầng nghĩa hơn.
Viết tác dụng của ẩn dụ trong bài kiểm tra thế nào cho đủ ý?
Nên trả lời ba ý: hình ảnh B chỉ cái gì, A và B giống nhau ở đâu, và nhờ đó câu thơ gợi được cảm xúc hay thái độ gì của tác giả. Tránh chỉ ghi chung chung “làm câu thơ hay hơn”.