Văn học hiện đại Việt Nam là nền văn học viết chủ yếu bằng chữ quốc ngữ, hình thành từ đầu thế kỉ XX và kéo dài đến nay, đối lập với văn học trung đại viết bằng chữ Hán, chữ Nôm theo những quy phạm chặt chẽ. Hỏi “văn học hiện đại là gì” trong giờ Ngữ văn tức là hỏi về một bước chuyển: từ văn chương của nhà nho sang văn chương của người cầm bút có cái tôi riêng.
| Khái niệm | Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay, theo hệ thống thi pháp hiện đại |
| Đối lập với | Văn học trung đại (thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX) |
| Chữ viết | Chủ yếu là chữ quốc ngữ |
| Dấu hiệu nhận biết | Thể loại mới (tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói, phóng sự, phê bình), cái tôi cá nhân, viết văn thành nghề |
| Các thời kì | Đầu thế kỉ XX–1945, 1945–1975, từ 1975 đến nay |

Văn học hiện đại Việt Nam hiểu thế nào?
Chữ “hiện đại” ở đây không có nghĩa là “mới viết gần đây”. Sách Ngữ văn 11 chương trình cũ, ở bài khái quát giai đoạn trước năm 1945, giải thích rằng chữ hiện đại được dùng để phân biệt với kiểu văn chương thời trung đại. Một bài thơ viết năm 1940 vì thế vẫn là văn học hiện đại, còn một bài thơ Đường luật chữ Hán làm năm 1905 lại mang nhiều nét trung đại.
Quá trình chuyển mình diễn ra từ đầu thế kỉ XX. Xã hội thay đổi sâu sắc dưới thời Pháp thuộc, đô thị mọc lên, lớp người học trường Pháp xuất hiện, báo chí và nghề in phát triển, chữ quốc ngữ được phổ biến rộng. Người viết bớt nhìn về khuôn mẫu Trung Hoa, quay sang đọc và học văn chương phương Tây, nhất là văn chương Pháp. Những điều kiện ấy đẩy văn chương đi theo một con đường khác hẳn mười thế kỉ trước.
Bởi vậy, nếu cần một câu trả lời ngắn cho “văn học hiện đại bắt đầu từ khi nào”, câu đó là: từ đầu thế kỉ XX, và thật sự trưởng thành vào khoảng những năm 1930.
Trung đại và hiện đại khác nhau ở đâu?
| Tiêu chí | Văn học trung đại | Văn học hiện đại |
|---|---|---|
| Chữ viết | Chữ Hán, chữ Nôm | Chủ yếu chữ quốc ngữ |
| Người viết | Phần lớn là nhà nho, vua quan, nhà sư | Trí thức tân học, nhà báo, người viết chuyên nghiệp |
| Thể loại tiêu biểu | Thơ Đường luật, phú, hịch, cáo, truyện thơ Nôm | Tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ tự do, kịch nói, phóng sự, phê bình |
| Quan niệm | Văn chương chở đạo lí, đề cao khuôn mẫu, điển tích | Đề cao cá tính sáng tạo, cái tôi, đời sống thật |
| Cách lưu hành | Chép tay, khắc ván, truyền miệng | Báo chí, sách in, người đọc đông đảo ở đô thị |
Một nét dễ nhớ nhất là tính quy phạm. Văn học trung đại có luật riêng cho từng thể: số câu, số chữ, niêm, đối. Văn học hiện đại phá dần những luật ấy, để nhà thơ tự chọn nhịp điệu và nhà văn tự chọn cách kể. Muốn hiểu vì sao chữ viết là ranh giới quan trọng, có thể đọc bài về chữ Nôm và cách tạo chữ.
Ba thời kì của văn học hiện đại
Sách giáo khoa thường chia văn học hiện đại Việt Nam thành ba thời kì. Mỗi thời kì lại có các chặng nhỏ hơn.
- Từ đầu thế kỉ XX đến 1945. Khoảng hai mươi năm đầu là thời chuẩn bị: thơ văn của các nhà nho yêu nước đã mới về tư tưởng nhưng hình thức về cơ bản còn là trung đại. Khoảng 1920–1930 là thời giao thời, các thể loại mới xuất hiện. Từ 1930 đến 1945 là thời phát triển rực rỡ với phong trào Thơ mới, văn xuôi lãng mạn và hiện thực, phóng sự, phê bình.
- Từ 1945 đến 1975. Văn học đi cùng hai cuộc kháng chiến, giọng sử thi, lạc quan, viết cho đông đảo người đọc.
- Từ 1975 đến nay. Văn học thời bình, rõ nhất từ năm 1986 với tinh thần đổi mới: quan tâm con người cá nhân, đời thường, cách viết đa dạng. Phần gần nhất thường được gọi là văn học đương đại theo cách hiểu của văn học sử.
Cách chia này là quy ước của sách học. Một số công trình nghiên cứu vạch mốc hơi khác, chẳng hạn tách riêng văn học cuối thế kỉ XIX ở Nam Bộ, nơi chữ quốc ngữ được dùng sớm.
Bốn dấu hiệu cho thấy một tác phẩm là “hiện đại”
- Có cái tôi cá nhân. Người viết nói về cảm xúc riêng của mình, không nấp sau cái “ta” chung chung. Thơ mới là ví dụ rõ nhất.
- Thể loại mới hoặc thể loại cũ được làm mới. Tiểu thuyết đi sâu vào tâm lí nhân vật, kể không theo trình tự thời gian; thơ thoát khỏi niêm luật.
- Ngôn ngữ gần đời thường. Bỏ lối văn biền ngẫu, ít điển cố, câu văn giống lời nói hằng ngày hơn.
- Viết cho công chúng rộng. Văn chương in trên báo, bán thành sách, nhiều người sống được bằng ngòi bút.
Bốn dấu hiệu này đi cùng nhau ở phần lớn tác phẩm được học. Khi thiếu dấu hiệu thứ nhất và thứ hai, bài văn thường thuộc giai đoạn chuyển tiếp, như các bài thơ chữ Hán của nhà nho đầu thế kỉ.
Từ Phan Bội Châu đến Xuân Diệu: bước chuyển qua bốn văn bản
Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác (Phan Bội Châu)
Bài thơ thất ngôn bát cú chữ Hán, viết khi tác giả bị giam ở Trung Quốc đầu thế kỉ XX. Tư thế hiên ngang, tinh thần yêu nước là cái mới; còn thể thơ, niêm luật, cách đối vẫn là trung đại. Đây là ví dụ đắt cho chặng chuẩn bị. Đọc bài thơ ở trang bài thơ viết trong nhà ngục Quảng Đông.
Vội vàng (Xuân Diệu)
Tiêu biểu cho Thơ mới: cái tôi ham sống, muốn “tắt nắng”, “buộc gió” để giữ lại mùa xuân. Câu thơ dài ngắn khác nhau, nhịp gấp gáp, cách ví von táo bạo. Cái tôi cá nhân được đặt vào trung tâm, điều mà thơ trung đại rất ít khi làm. Xem thêm ở bài soạn Vội vàng theo Kết nối tri thức.
Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
Truyện ngắn gần như không có cốt truyện, chỉ có tâm trạng của Liên trong một buổi chiều ở phố huyện nghèo. Sức hấp dẫn nằm ở những rung động mong manh của nhân vật. Kiểu truyện như vậy không thể có trong văn xuôi trung đại, vốn chú trọng sự việc và bài học đạo lí. Câu hỏi đọc hiểu có trong soạn bài Hai đứa trẻ của Thạch Lam.
Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)
Phê bình văn học là một thể loại mới của thời hiện đại. Bài tiểu luận đặt ở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam (1932–1941) tổng kết cả phong trào Thơ mới, với nhận xét nổi tiếng rằng chữ “tôi” đã thay cho chữ “ta”. Chính văn bản này giải thích cho dấu hiệu thứ nhất ở mục trên.
Đặt bài thơ của Phan Bội Châu cạnh Vội vàng, người đọc thấy ngay khoảng cách vài chục năm: cùng là khát vọng lớn, nhưng một bên nói bằng giọng “ta” của kẻ sĩ, một bên nói bằng giọng “tôi” của người trẻ thành thị.
Luyện tập: bốn câu nhận biết văn học hiện đại
Câu 1: Vì sao gọi là văn học “hiện đại” dù có những tác phẩm đã viết cách nay gần trăm năm?
Đáp án: Vì “hiện đại” được hiểu trong thế đối lập với “trung đại”: đó là nền văn học theo hệ thống thi pháp mới (chữ quốc ngữ, thể loại mới, cái tôi cá nhân), không phải văn học viết gần đây.
Câu 2: Bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác mới ở điểm nào và còn cũ ở điểm nào?
Đáp án: Mới ở tư tưởng yêu nước, tư thế hiên ngang của nhà cách mạng; cũ ở hình thức: thơ chữ Hán, thể thất ngôn bát cú Đường luật với niêm luật, đối chặt chẽ.
Câu 3: Kể tên ba thể loại xuất hiện hoặc phát triển mạnh trong văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX đến 1945.
Đáp án: Có thể kể: tiểu thuyết hiện đại, truyện ngắn, kịch nói, phóng sự, bút kí, phê bình văn học.
Câu 4: Văn học hiện đại Việt Nam gồm những thời kì nào?
Đáp án: Ba thời kì: từ đầu thế kỉ XX đến 1945; từ 1945 đến 1975; từ 1975 đến nay.
Chữ “hiện đại” trong văn học sử dùng thế nào?
Văn học hiện đại là gì?
Nói chung, văn học hiện đại là văn học theo hệ thống thi pháp mới, đề cao cá tính và đời sống thật, đối lập với văn học cổ, trung đại. Ở Việt Nam, khái niệm này chỉ văn học từ đầu thế kỉ XX trở đi.
Văn học hiện đại Việt Nam có mấy bộ phận?
Riêng giai đoạn đầu thế kỉ XX đến 1945, sách giáo khoa chia thành hai bộ phận: văn học công khai (gồm xu hướng lãng mạn và hiện thực) và văn học không công khai của các nhà văn chiến sĩ. Từ sau 1945, cách chia này không còn được dùng.
Thơ mới có phải là văn học hiện đại không?
Có. Phong trào Thơ mới 1932–1945 là một trong những thành tựu tiêu biểu nhất của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, ở chỗ đưa cái tôi cá nhân và thể thơ tự do hơn vào thơ ca.
Văn học hiện đại và văn học đương đại khác nhau thế nào?
Hiện đại rộng hơn, tính từ đầu thế kỉ XX. Đương đại là phần đang diễn ra, thường tính từ sau 1975 hoặc từ thời Đổi mới, nằm bên trong văn học hiện đại.