Văn học Việt Nam 1945–1975 là giai đoạn văn học tính từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi đất nước thống nhất năm 1975, ra đời và lớn lên giữa hai cuộc kháng chiến. Vì thế nhiều người gọi gọn là văn học kháng chiến hay văn học cách mạng 1945–1975. Ba mươi năm ấy có ba chặng, ba đặc điểm lớn, và phần lớn bài học Ngữ văn 12 chương trình cũ xoay quanh nó.
| Khái niệm | Nền văn học viết trong ba mươi năm chiến tranh, từ tháng 8/1945 đến tháng 4/1975 |
| Thuộc | Văn học Việt Nam hiện đại, sau phong trào Thơ mới và văn xuôi 1930–1945 |
| Ba chặng | 1945–1954, 1955–1964, 1965–1975 |
| Dấu hiệu nhận biết | Đề tài Tổ quốc, người lính, người lao động; giọng ngợi ca; cảm hứng sử thi và lãng mạn |
| Học ở | Bài Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX (Ngữ văn 12, tập một, sách cũ) |

Văn học Việt Nam 1945–1975 bắt đầu từ đâu?
Mốc mở đầu là mùa thu năm 1945. Trước đó, văn đàn chia thành nhiều dòng: lãng mạn, hiện thực, thơ văn cách mạng bí mật. Sau Cách mạng tháng Tám, các dòng ấy dồn về một hướng. Nhà văn, nhà thơ đi theo kháng chiến, viết trong hoàn cảnh chiến tranh, và văn chương được xem là một mặt trận. Sách Ngữ văn 12 gọi đây là kiểu “nhà văn – chiến sĩ”, người cầm bút đồng thời là người trong cuộc.
Bối cảnh của ba mươi năm này rất đặc biệt. Đất nước đi qua cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi một thời gian chia cắt hai miền, miền Bắc xây dựng cuộc sống mới, sau đó cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ. Giao lưu văn hóa với bên ngoài bị hạn chế, chủ yếu với các nước xã hội chủ nghĩa. Những điều kiện ấy quyết định gần như mọi lựa chọn đề tài và giọng văn.
Cần lưu ý: tên gọi này trong sách giáo khoa chỉ nền văn học phát triển ở vùng kháng chiến và miền Bắc, cùng văn học giải phóng ở miền Nam. Ở các đô thị miền Nam trước 1975 còn có một đời sống văn học khác, được nghiên cứu riêng và không phải trọng tâm của bài học phổ thông.
Ba chặng đường trong ba mươi năm
| Chặng | Không khí chung | Tác phẩm hay gặp trong sách |
|---|---|---|
| 1945–1954 | Niềm vui độc lập, rồi kháng chiến chống Pháp; viết về bộ đội, dân công, làng quê kháng chiến | Đồng chí (Chính Hữu), Tây Tiến (Quang Dũng), Làng (Kim Lân), Đôi mắt (Nam Cao), tập thơ Việt Bắc (Tố Hữu) |
| 1955–1964 | Miền Bắc xây dựng cuộc sống mới, nỗi đau chia cắt hai miền; thơ hài hòa giữa riêng và chung | Gió lộng (Tố Hữu), Ánh sáng và phù sa (Chế Lan Viên), Vợ nhặt (Kim Lân, in năm 1962) |
| 1965–1975 | Cả nước chống Mỹ; ca ngợi lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng; thế hệ nhà thơ trẻ ra trận | Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi), thơ Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh |
Chặng đầu đông người đọc nhất ở thơ: bài thơ ngắn, dễ thuộc, chép tay truyền nhau trên đường hành quân. Chặng giữa ít tiếng súng hơn, văn xuôi mở rộng sang đề tài lao động, hợp tác xã, công trường. Chặng cuối, nhiều truyện ngắn được viết ngay ở chiến trường miền Nam, còn ở miền Bắc truyện, kí và thơ của những người lính trẻ nở rộ. Một tác phẩm như bài soạn Lặng lẽ Sa Pa (truyện viết năm 1970) cho thấy cả vùng hậu phương cũng được viết bằng giọng ấm áp, tin yêu, dù không có cảnh đánh nhau nào.
Ba đặc điểm giúp nhận ra văn học giai đoạn này
Bài khái quát trong sách Ngữ văn 12 gom văn học 1945–1975 vào ba đặc điểm. Học sinh hay thuộc tên gọi mà quên cách nhận ra chúng trong một văn bản cụ thể, nên dưới đây mỗi đặc điểm kèm một câu hỏi để tự kiểm tra.
- Vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn với vận mệnh đất nước. Văn học đi sát từng nhiệm vụ của thời cuộc. Đề tài lớn là Tổ quốc: bảo vệ đất nước, giải phóng miền Nam, xây dựng cuộc sống mới. Hỏi thử: nhân vật chính có đang làm một việc chung của cả cộng đồng không?
- Hướng về đại chúng. Người lao động, người lính, người dân thường bước lên vị trí trung tâm. Ngôn ngữ giản dị, gần lời ăn tiếng nói hằng ngày; thể thơ dân tộc như lục bát được dùng nhiều. Hỏi thử: nhân vật có phải người bình thường, và tác phẩm có dễ đọc với đông đảo người đọc không?
- Khuynh hướng sử thi kết hợp cảm hứng lãng mạn. Sử thi là cái nhìn hướng tới số phận chung, nhân vật tiêu biểu cho phẩm chất của cả dân tộc, giọng văn trang trọng, ngợi ca. Lãng mạn là niềm tin vào ngày mai, khát vọng hướng tới tương lai tươi sáng. Hỏi thử: tác phẩm nói về một con người hay về cả một thế hệ, và kết thúc có hướng về phía hi vọng không?
Hai khái niệm ở đặc điểm thứ ba có bài giải thích riêng: sử thi và cảm hứng sử thi, cùng sắc thái của chữ lãng mạn. Hiểu chúng rồi thì ba đặc điểm trên gần như tự nối vào nhau: hướng về cộng đồng, viết cho đông đảo người đọc, và nhìn con người bằng con mắt anh hùng, lạc quan.
Ba tác phẩm soi rõ ba đặc điểm
Đồng chí (Chính Hữu, 1948)
Bài thơ kể chuyện hai người lính nông dân, quê “nước mặn đồng chua” và “đất cày lên sỏi đá”, gặp nhau trong đơn vị rồi thành tri kỉ. Không có trận đánh lớn, chỉ có áo rách, chân không giày, cơn sốt rét. Tinh thần đại chúng hiện rõ: người anh hùng ở đây là người nông dân mặc áo lính. Câu kết với hình ảnh khẩu súng và vầng trăng thì mang chất lãng mạn đặc trưng của thơ kháng chiến chống Pháp. Phần đọc hiểu chi tiết có trong bài soạn Đồng chí của Chính Hữu.
Tây Tiến (Quang Dũng, 1948)
Cùng năm với Đồng chí nhưng giọng khác hẳn: hào hoa, bi tráng, nhiều hình ảnh núi rừng Tây Bắc dữ dội. Cái chết được nói tới thẳng thắn nhưng nâng lên thành vẻ đẹp tráng lệ, rất gần với cảm hứng sử thi. Bài thơ cũng cho thấy đặc điểm chung không xóa đi giọng riêng của từng nhà thơ. Muốn đọc kĩ từng đoạn, xem soạn bài Tây Tiến theo sách mới.
Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành, 1965)
Truyện viết ngay ở chiến trường Tây Nguyên. Cây xà nu bị đại bác bắn gãy mà vẫn mọc lên, và câu chuyện đời Tnú được kể bên bếp lửa cho cả làng nghe. Đây là ví dụ hay được chọn cho khuynh hướng sử thi: số phận một người gắn với số phận cả buôn làng, nhân vật mang phẩm chất của cộng đồng, giọng kể trang trọng như kể chuyện của cả dân tộc. Đọc thêm về người viết qua chân dung nhà văn Nguyễn Trung Thành.
Đặt ba tác phẩm cạnh nhau sẽ thấy điều sách giáo khoa nhấn mạnh: cái riêng của nhân vật thường hòa vào cái chung. Đó cũng là chỗ văn học sau năm 1975 bắt đầu đổi khác, khi người viết quay lại nhìn kĩ hơn những nỗi đau riêng mà thời chiến buộc phải gác lại.
Luyện tập: bốn câu về văn học 1945–1975
Câu 1: Văn học Việt Nam 1945–1975 chia thành mấy chặng? Nêu mốc từng chặng.
Đáp án: Ba chặng: 1945–1954 (kháng chiến chống Pháp), 1955–1964 (xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước), 1965–1975 (kháng chiến chống Mỹ).
Câu 2: Bài thơ Đồng chí thể hiện đặc điểm “hướng về đại chúng” ở những chi tiết nào?
Đáp án: Nhân vật là người lính xuất thân nông dân nghèo; hình ảnh đời thường như áo rách vai, quần vá, chân không giày; ngôn ngữ mộc mạc, gần lời nói hằng ngày.
Câu 3: Vì sao Rừng xà nu thường được chọn làm ví dụ cho khuynh hướng sử thi?
Đáp án: Vì truyện đặt số phận Tnú trong số phận cả làng Xô Man, nhân vật tiêu biểu cho phẩm chất cộng đồng, sự kiện có ý nghĩa với cả dân tộc và giọng kể trang trọng, ngợi ca.
Câu 4: Xếp các tác phẩm sau vào đúng chặng: Tây Tiến, Những đứa con trong gia đình, Vợ nhặt.
Đáp án: Tây Tiến thuộc chặng 1945–1954; Vợ nhặt (in năm 1962) thuộc chặng 1955–1964, dù cốt truyện lấy bối cảnh nạn đói năm 1945; Những đứa con trong gia đình (1966) thuộc chặng 1965–1975. Câu này dễ sai vì nhầm năm in với thời điểm diễn ra câu chuyện.
Văn học kháng chiến qua bốn ý cần nắm
Văn học kháng chiến là gì?
Là cách gọi phổ biến của văn học viết trong và về các cuộc kháng chiến, chủ yếu là giai đoạn 1945–1975. Trong sách giáo khoa, tên chính thức là văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975.
Đặc điểm văn học 1945–1975 gồm những gì?
Ba đặc điểm: vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn với vận mệnh đất nước; hướng về đại chúng; mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Đề thi hay yêu cầu chứng minh một trong ba đặc điểm bằng một tác phẩm cụ thể.
Văn học cách mạng 1945–1975 có hạn chế gì không?
Sách Ngữ văn 12 có nhắc tới hạn chế: cái nhìn đôi khi giản đơn, chú trọng cái chung mà ít đi vào số phận và nội tâm riêng của con người. Đây chính là điểm mà văn học sau 1975 tìm cách bù đắp.
Học giai đoạn này nên bắt đầu từ tác phẩm nào?
Nên đọc một bài thơ chặng đầu (Đồng chí hoặc Tây Tiến), một tác phẩm chặng giữa (Vợ nhặt) và một truyện chặng cuối (Rừng xà nu hoặc bài soạn Những đứa con trong gia đình). Ba văn bản đủ để thấy cả ba đặc điểm thay đổi sắc độ qua từng chặng.