Ca dao là thơ trữ tình dân gian của người Việt: những lời thơ do nhân dân sáng tác, truyền miệng qua nhiều đời, phần lớn theo thể lục bát, nói lên tình cảm, nỗi niềm của người lao động. Hỏi “ca dao là gì” trong giờ Ngữ văn, ý chính cần nhớ gồm ba điều: tập thể sáng tác, truyền miệng, thiên về bộc lộ cảm xúc.
| Khái niệm | Lời thơ trữ tình dân gian, vốn là phần lời của dân ca, nay được hiểu rộng là cả thơ dân gian cùng phong cách |
| Nghĩa chữ | Hán Việt 歌謠: ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có chương khúc |
| Thuộc | Văn học dân gian, loại trữ tình |
| Dấu hiệu nhận biết | Ngắn, thường lục bát; không rõ tác giả; nhiều công thức mở đầu như “Thân em…”, “Ai ơi…”, “Rủ nhau…” |

Ca dao theo sách Ngữ văn và theo các nhà nghiên cứu
Chữ ca dao gồm hai chữ Hán. Ca (歌) là hát, là bài hát có giai điệu; dao (謠) là lời hát ngắn, không cần nhạc đệm. Ghép lại, ca dao vốn là lời của những câu hát lưu truyền trong dân gian.
Sách Ngữ văn trước đây xếp ca dao và dân ca vào cùng một nhóm: các thể loại trữ tình dân gian, kết hợp lời với nhạc, diễn tả đời sống nội tâm con người. Rồi sách tách hai khái niệm cho rõ. Dân ca là câu hát gắn với làn điệu, với lối hát của từng vùng (quan họ, hò Huế, lý Nam Bộ…). Ca dao là phần lời thơ của dân ca, và còn gồm cả những bài thơ dân gian có cùng phong cách dù không gắn với điệu hát nào.
Nhiều giáo trình văn học dân gian cũng hiểu theo hướng ấy: ca dao là những bài văn vần theo lối dân tộc, phần nhiều là lục bát, có thể dùng để tả cảnh, kể việc, gửi gắm ý tứ hay bày tỏ tình cảm. Nói gọn, tách khỏi điệu hát thì ca dao là thơ, một thể thơ dân gian.
Năm dấu hiệu để nhận ra một bài ca dao
Đặc điểm của ca dao có thể gói vào năm điểm dưới đây, đủ để làm bài nhận diện.
- Ngắn gọn: phổ biến nhất là bài hai dòng hoặc bốn dòng; bài dài hơn thì hiếm.
- Thể thơ dân tộc: đa số là lục bát (một dòng sáu tiếng, một dòng tám tiếng), ngoài ra có song thất lục bát, vãn bốn, vãn năm và thể hỗn hợp.
- Không có tác giả riêng: bài ca là của chung, mỗi vùng có thể hát lệch đi vài chữ, nên một bài thường có nhiều dị bản.
- Công thức lặp lại: nhiều bài mở bằng “Thân em như…”, “Ai ơi…”, “Rủ nhau…”, “Trong đầm gì đẹp bằng sen…”, “Chiều chiều…”. Gặp những cụm này, khả năng cao là ca dao.
- Nói bằng hình ảnh quen thuộc: cây đa, bến nước, con cò, tấm lụa, giếng làng… cùng những phép tu từ giản dị: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa.
Vì ngắn và vần, ca dao rất dễ thuộc. Ông bà ru cháu bằng ca dao, người đi cấy hát đối đáp bằng ca dao, và cứ thế lời thơ đi qua hàng trăm năm mà không cần trang giấy.
Các nhóm ca dao thường gặp trong chương trình
| Nhóm | Nội dung | Câu mở thường gặp |
|---|---|---|
| Ca dao về tình cảm gia đình | Công ơn cha mẹ, tình anh em, nghĩa vợ chồng | “Công cha…”, “Anh em như thể…” |
| Ca dao về quê hương, đất nước | Cảnh đẹp, sản vật, niềm tự hào về một vùng đất | “Rủ nhau xem cảnh…”, “Đường vô…” |
| Ca dao than thân | Nỗi khổ, thân phận người phụ nữ, người nghèo trong xã hội cũ | “Thân em như…” |
| Ca dao yêu thương, tình nghĩa | Tình yêu đôi lứa, nỗi nhớ, lời hẹn ước | “Khăn thương nhớ ai…”, “Chiều chiều ra đứng…” |
| Ca dao hài hước, châm biếm | Chế giễu thói xấu, tiếng cười lạc quan | “Nực cười…”, “Làm trai cho đáng nên trai…” |
Kho tàng các nhóm này khá lớn; riêng mảng than thân và tình nghĩa đã có cả tuyển tập ca dao than thân, tình nghĩa để đọc thêm.
Đọc kĩ bốn bài ca dao quen trong sách giáo khoa
Lời ru về công cha nghĩa mẹ
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Hai phép so sánh đặt cạnh nhau: công cha cao vững như núi, nghĩa mẹ dạt dào, không bao giờ cạn như nguồn nước. Cái lớn lao, trừu tượng được đo bằng hình ảnh thiên nhiên to rộng, nên trẻ nhỏ nghe cũng hiểu. Bài ca đầy đủ còn hai dòng sau khuyên con giữ tròn chữ hiếu.
Tiếng than của người con gái
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
“Tấm lụa đào” đẹp và quý, cho thấy cô gái biết giá trị của mình. Nhưng tấm lụa ấy lại “phất phơ giữa chợ”, chờ người mua. Câu hỏi bỏ lửng “biết vào tay ai” nói hết nỗi bấp bênh của người phụ nữ xưa, không được tự quyết phận mình.
Lời nhắc về tình đồng bào
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Tấm nhiễu đỏ phủ lên giá gương để che bụi, giữ cho gương sáng. Từ hình ảnh rất đời thường ấy, bài ca chuyển sang lời khuyên: người cùng một nước phải che chở, đùm bọc nhau. Đây là kiểu ẩn dụ dân gian hay gặp, mượn vật để nói người; xem thêm về phép này ở bài biện pháp ẩn dụ trong thơ văn.
Niềm tự hào về Hồ Gươm
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ,
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Ba chữ “xem” nối tiếp như bước chân người đi dạo, điểm từng danh thắng. Lời mời “rủ nhau” thân mật biến bài ca thành lời giới thiệu quê hương đầy tự hào. Nhiều bài cùng chủ đề được học ở lớp 6, có phân tích trong bài chùm ca dao về quê hương đất nước; phần câu hỏi SGK có ở bài soạn Những câu hát dân gian về vẻ đẹp quê hương.
Ca dao, dân ca, tục ngữ, đồng dao: tách cho rõ
| Thể loại | Bản chất | Chức năng chính | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Ca dao | Lời thơ trữ tình, thường thành bài, có vần | Bộc lộ tình cảm | “Thân em như tấm lụa đào…” |
| Dân ca | Lời hát đi cùng làn điệu một vùng | Hát trong sinh hoạt, lễ hội, lao động | Quan họ, hò, lý, ví dặm |
| Tục ngữ | Câu nói ngắn, nhịp nhàng, thường chỉ một câu | Đúc kết kinh nghiệm, nhận thức | “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” |
| Đồng dao | Lời vần của trẻ em | Vừa đọc vừa chơi | “Dung dăng dung dẻ…” |
Cách phân biệt nhanh nhất là hỏi: câu này để cảm hay để dạy? Ca dao nói lòng người, còn tục ngữ nói lẽ đời. Hai thể loại thỉnh thoảng giao nhau, vì một số câu lục bát cũng đúc kết kinh nghiệm. Muốn biết ca dao khác thành ngữ ra sao, đọc bài giải nghĩa thành ngữ là gì.
Luyện nhận diện ca dao có đáp án
Câu 1: Trong các câu sau, câu nào là ca dao, câu nào là tục ngữ: a) “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”; b) “Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Người trong một nước phải thương nhau cùng”; c) “Đói cho sạch, rách cho thơm”.
Đáp án: Câu b là ca dao: hai dòng lục bát, nói lên tình cảm và lời nhắn nhủ. Câu a và c là tục ngữ: mỗi câu chỉ một vế ngắn, đúc kết một bài học ứng xử.
Câu 2: Bài “Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” viết theo thể thơ nào? Chỉ ra biện pháp tu từ chính.
Đáp án: Thể lục bát: dòng trên sáu tiếng, dòng dưới tám tiếng. Biện pháp chính là so sánh: công cha với núi Thái Sơn, nghĩa mẹ với nước trong nguồn, làm nổi bật sự lớn lao, vô tận của tình cha mẹ.
Câu 3: Kể ba công thức mở đầu quen thuộc của ca dao và cho biết mỗi công thức hay gắn với nội dung gì.
Đáp án: “Thân em như…” thường mở đầu ca dao than thân của người phụ nữ; “Rủ nhau…” hay gắn với ca dao về cảnh đẹp quê hương; “Ai ơi…” thường là lời nhắn nhủ, khuyên răn. (Có thể nêu thêm “Chiều chiều…” gắn với nỗi nhớ.)
Câu 4: Câu “Nực cười châu chấu đá xe / Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng” thuộc nhóm ca dao nào? Vì sao?
Đáp án: Thuộc nhóm ca dao hài hước, châm biếm. Cụm “nực cười” báo trước tiếng cười; chuyện châu chấu đá đổ được xe là một nghịch lý cố ý, đùa vui hoặc mỉa mai kẻ mạnh tưởng mình không thể thua.
Câu 5: Vì sao một bài ca dao thường có nhiều dị bản?
Đáp án: Vì ca dao được truyền miệng, không có văn bản gốc của một tác giả. Mỗi vùng, mỗi người hát lại có thể đổi một vài chữ cho hợp giọng địa phương, nên cùng một bài có nhiều cách đọc khác nhau.
Ca dao: mấy điều học sinh hay hỏi
Ca dao là thể loại gì của văn học dân gian?
Xét theo loại, ca dao nằm trong nhóm trữ tình dân gian, khác với truyện cổ tích, truyền thuyết (loại tự sự) hay tục ngữ (loại đúc kết kinh nghiệm). Nhân vật trong ca dao là “nhân vật trữ tình” đang bày tỏ cảm xúc.
Ca dao có phải là thơ lục bát không?
Phần lớn ca dao viết bằng lục bát, nhưng không phải tất cả. Có bài theo song thất lục bát, vãn bốn, vãn năm hoặc thể hỗn hợp. Ngược lại, thơ lục bát của nhà thơ có tên tuổi thì không gọi là ca dao; cách làm thể thơ này có trong bài luật và cách làm thơ lục bát.
Ca dao và dân ca khác nhau thế nào?
Dân ca là câu hát gồm cả lời lẫn làn điệu, gắn với lối hát từng vùng. Ca dao là phần lời thơ, đọc lên được mà không cần hát. Một bài quan họ khi chép ra giấy, bỏ nhạc đi, phần lời ấy chính là ca dao.
Ai là tác giả của ca dao?
Không có tác giả riêng. Ca dao là sáng tác tập thể của nhân dân, được sửa đi sửa lại qua nhiều thế hệ người hát, nên khi trích dẫn chỉ ghi “ca dao”.