Tương thân tương ái là thương yêu, gần gũi và đỡ đần lẫn nhau, nhất là lúc ai đó gặp hoạn nạn. Khi người ta nói “tinh thần tương thân tương ái”, ý muốn nhắc tới nếp sống người có giúp người không có, cả xóm cả nước cùng gánh việc khó, dù chẳng phải họ hàng ruột thịt.
| Nghĩa ngắn | Thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ nhau, đặc biệt khi khó khăn |
| Gốc từ | Thành ngữ Hán Việt 相親相愛: tương (lẫn nhau) + thân (gần gũi) + tương + ái (yêu) |
| Loại từ | Thành ngữ bốn chữ; thường đi với “tinh thần”, “truyền thống”, “lòng” |
| Sắc thái | Tích cực, trang trọng; hay gặp trong văn nghị luận, lời kêu gọi quyên góp |

Tương thân tương ái (相親相愛) nói gì?
Thành ngữ này lặp chữ tương (相) hai lần, và chính chữ lặp ấy tạo ra nghĩa “qua lại”. Tương là lẫn nhau, việc làm từ hai phía; cùng gốc có tương trợ, tương tác, tương đồng. Thân (親) là gần, là người nhà, như trong thân thiết, thân nhân. Ái (愛) là yêu, như trong ái quốc, nhân ái. Ghép lại, sát chữ là “gần gũi nhau, yêu thương nhau”.
Điều thú vị nằm ở chỗ thành ngữ đi sang tiếng Việt thì đổi hướng. Trong tiếng Hán, từ điển Hán ngữ giảng 相親相愛 là tình cảm sâu đậm, quan hệ gắn bó giữa hai bên, và ghi chú thành ngữ thường dùng cho vợ chồng hay những người rất thân. Từ gần nghĩa mà từ điển ấy đưa ra là 如膠似漆, tức như keo như sơn, gắn bó khăng khít.
Người Việt mượn bốn chữ ấy nhưng mở rộng vòng tròn ra rất xa: không còn là chuyện hai người, mà là chuyện cả cộng đồng. Từ điển tiếng Anh về tiếng Việt cũng giảng theo hướng này: lòng vị tha, giúp đỡ nhau, nhất là khi có thiên tai, khủng hoảng. Vì thế, câu “hai vợ chồng tương thân tương ái” nghe hơi lạ tai với người Việt, còn “bà con tương thân tương ái giúp vùng lũ” thì quen thuộc.
Nghĩa của thành ngữ trong tiếng Việt hôm nay
Tách ra, thành ngữ có hai lớp gần nhau. Lớp thứ nhất là tình cảm: người với người thương mến, gần gũi, không coi nhau là kẻ lạ. Lớp thứ hai là việc làm: thấy người khác khó thì ra tay giúp, góp tiền, góp sức, góp chỗ ở. Khi đứng trong cụm “tinh thần tương thân tương ái”, nghĩa thứ hai nổi lên rõ hơn.
Vài câu dùng thường gặp:
- Báo đài: “Hàng trăm chuyến xe hàng cứu trợ thể hiện tinh thần tương thân tương ái của người dân cả nước.”
- Lớp học: “Chi đội phát động phong trào tương thân tương ái, góp sách vở cũ tặng bạn vùng cao.”
- Khu phố: “Tổ dân phố có quỹ tương thân tương ái để thăm hỏi nhà có người ốm.”
Một điểm hay bị bỏ qua: thành ngữ nhấn vào chữ lẫn nhau. Hôm nay mình giúp người, mai người giúp mình. Nó khác việc một nhà hảo tâm trao quà rồi đi, dù việc trao quà ấy vẫn đáng quý.
Bầu, bí và tấm nhiễu điều trong ca dao
Ông cha không dùng chữ Hán để dạy điều này cho con cháu. Họ dùng hình ảnh trong vườn, trong nhà:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Tấm nhiễu đỏ phủ lên giá gương để gương khỏi bám bụi; người cùng một nước cũng che chở cho nhau như thế. Cặp câu đi kèm thì mượn giàn bầu, giàn bí: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Hai loài khác nhau mà cùng leo một giàn, cùng chịu nắng mưa. Câu bầu bí còn được học trong bài ca dao về yêu thương lớp 4 (Chân trời sáng tạo). Hình ảnh hai cây leo chung giàn và lời khuyên đùm bọc của câu ấy được phân tích ở bài bầu ơi thương lấy bí cùng nghĩa là gì.
Ngoài ca dao còn có tục ngữ “Lá lành đùm lá rách”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “Thương người như thể thương thân”. Nhiều câu cùng chủ đề được gom lại ở trang tuyển ca dao đồng lòng, chung sức.
Nói về chỗ dựa vào nhau mà sống thì sắc hơn cả là thành ngữ môi hở răng lạnh, gốc từ chuyện nước Ngu để nước Tấn mượn đường rồi mất nước theo.
Đặt cạnh đùm bọc, tương trợ và thờ ơ
| Từ, cụm từ | Quan hệ | Chỗ khác |
|---|---|---|
| Lá lành đùm lá rách | Gần nghĩa | Nhấn chiều người khá hơn giúp người khó hơn |
| Tương trợ | Gần nghĩa | Thiên về việc giúp nhau cụ thể, ít nói tới tình cảm |
| Đùm bọc, cưu mang | Gần nghĩa | Che chở lâu dài, thường trong gia đình, làng xóm |
| Từ thiện | Dễ nhầm | Việc cho đi một chiều; tương thân tương ái là hai chiều |
| Thờ ơ, vô cảm, “đèn nhà ai nấy rạng” | Trái nghĩa | Mặc kệ chuyện của người khác |
Với chữ đoàn kết, ranh giới mảnh hơn. Đoàn kết là gom sức lại cho một mục tiêu chung; tương thân tương ái là thương và đỡ người đang yếu. Hai điều thường đi cùng nhau, và bài giải nghĩa chữ đoàn kết 團結 có bảng so sánh kĩ hơn.
Viết đoạn nghị luận về lòng tương thân tương ái
Đề dạng “Suy nghĩ về tinh thần tương thân tương ái” hay “Trình bày ý kiến về truyền thống lá lành đùm lá rách” quen thuộc từ lớp 7 tới lớp 9. Một khung bốn ý:
- Giải thích: nêu nghĩa chữ (lẫn nhau, thân thiết, yêu thương) rồi mở ra nghĩa đời sống: đỡ đần người gặp nạn mà không cần là người thân.
- Biểu hiện: cứu trợ vùng bão lũ, hiến máu, nồi cháo miễn phí trước cổng bệnh viện, góp áo ấm cho trẻ vùng cao, thăm bạn cùng lớp bị ốm.
- Ý nghĩa: người khó được nâng dậy; người cho cũng thấy mình sống có ích; cộng đồng gắn với nhau chặt hơn.
- Mặt trái cần nói: lợi dụng lòng tốt để trục lợi, quyên góp không minh bạch; giúp người cần đúng cách, đúng chỗ.
Bài văn mẫu có sẵn để tham khảo cách triển khai là tuyển nghị luận về vấn đề đời sống lớp 8, trong đó có một mẫu viết về đồng bào giúp nhau sau thiên tai.
Một lưu ý nhỏ khi viết: giữ trọn bốn chữ, không rút thành “tinh thần tương ái”. Và đừng đặt thành ngữ này cho đôi vợ chồng son như tiếng Hán vẫn làm; người đọc Việt sẽ tưởng hai người vừa đi cứu trợ về.
Tương thân tương ái trong lớp học và trong từ điển
Tinh thần tương thân tương ái là gì?
Là nếp sống quan tâm, giúp đỡ nhau trong cộng đồng, nhất là khi có người gặp thiên tai, ốm đau, nghèo khó. Chữ “tinh thần” nhấn rằng đây là điều đã thành truyền thống chứ không chỉ một việc làm lẻ.
Tương thân tương ái nghĩa là gì nếu dịch từng chữ?
Tương là lẫn nhau, thân là gần gũi, ái là yêu. Sát chữ là “gần gũi nhau, yêu thương nhau”; nghĩa tiếng Việt mở rộng thành đùm bọc, giúp nhau lúc khó.
Biểu hiện của tương thân tương ái trong đời sống học sinh là gì?
Chép bài giúp bạn nghỉ ốm, chia đồ dùng học tập, góp tiền mua quà khi nhà bạn gặp chuyện, tham gia gom sách cũ, áo ấm cho trẻ vùng khó khăn. Việc nhỏ nhưng làm thật lòng.
Tương thân tương ái tiếng Anh là gì?
Không có một từ tương đương duy nhất. Tùy ngữ cảnh có thể dịch là mutual love and support, solidarity hoặc helping one another. Khi nói về truyền thống, cụm the spirit of mutual support khá sát ý.