Từ láy là từ phức có từ hai tiếng trở lên, trong đó các tiếng gắn với nhau chủ yếu nhờ quan hệ về âm: lặp lại cả tiếng, lặp phụ âm đầu hoặc lặp phần vần, như xinh xinh, long lanh, lom khom. Hỏi “từ láy là từ gì” thì câu trả lời ngắn nhất là: từ được tạo ra bằng cách láy âm, khác với từ ghép tạo ra bằng cách ghép nghĩa.
| Khái niệm | Từ phức mà các tiếng có quan hệ láy âm với nhau |
| Nghĩa của từ láy | Thường gợi hình, gợi tiếng, nhấn mạnh hoặc làm nhẹ đi so với tiếng gốc |
| Thuộc | Từ phức (cùng nhóm với từ ghép), phân loại theo cấu tạo từ |
| Dấu hiệu nhận biết | Các tiếng giống nhau về âm; thường có ít nhất một tiếng không tự đứng được nghĩa |
| Học ở | Tiếng Việt tiểu học, Ngữ văn 6 (từ đơn, từ phức), Ngữ văn 7 (tác dụng của từ láy) |

Từ láy trong sách Ngữ văn và trong từ điển
Ở Ngữ văn 6 bộ Kết nối tri thức, phần Thực hành tiếng Việt sau văn bản soạn Bài học đường đời đầu tiên theo hai bộ sách (trang 20, tập một) nhắc lại cách chia từ: từ đơn có một tiếng, từ phức có hai tiếng trở lên; từ phức lại chia thành từ ghép, nơi các tiếng liên hệ nhau về nghĩa, và từ láy, nơi các tiếng liên hệ nhau về âm. Đoạn Dế Mèn tả mình có sẵn cả chùm từ láy như phành phạch, giòn giã, rung rinh, hủn hoẳn.
Wiktionary tiếng Việt (dẫn theo Soha Tra Từ) giải thích gọn hơn: từ láy là từ nhiều âm tiết, trong đó một hoặc hai âm tiết là hình thức láy âm của âm tiết còn lại. Tiếng Anh gọi đây là reduplicative, tức từ được tạo ra bằng cách lặp.
Còn “từ láy có nghĩa là gì” thì cần tách hai chuyện. Khái niệm thì như trên. Còn nghĩa của từng từ láy cụ thể thường không nằm hẳn ở một tiếng nào, mà ở cả cái âm hưởng của hai tiếng đi liền: róc rách gợi tiếng nước, lênh khênh gợi dáng cao gầy chênh vênh. Muốn ôn lại toàn bộ sơ đồ cấu tạo từ, có thể xem bài từ đơn, từ phức và cách cấu tạo từ.
Láy toàn bộ và láy bộ phận: chia thế nào cho đúng?
Cách chia quen thuộc nhất dựa vào phần âm được lặp lại.
| Kiểu | Cái được lặp | Ví dụ |
|---|---|---|
| Láy toàn bộ, giữ nguyên | Lặp cả tiếng | xanh xanh, ào ào, đăm đăm |
| Láy toàn bộ, có biến âm | Lặp cả tiếng nhưng đổi thanh điệu hoặc phụ âm cuối cho dễ đọc | đo đỏ, nho nhỏ, tim tím, đèm đẹp |
| Láy bộ phận: láy âm | Giống phụ âm đầu | long lanh, nhỏ nhắn, lạnh lẽo, lơ lửng |
| Láy bộ phận: láy vần | Giống phần vần | lom khom, lác đác, bối rối, chênh vênh |
Ngoài hai tiếng, tiếng Việt còn có từ láy ba và láy tư, phần nhiều dùng để nhấn mạnh: sạch sành sanh, khấp kha khấp khểnh. Một số sách còn chia theo nghĩa thành từ tượng thanh (khanh khách, róc rách) và từ tượng hình (lom khom, lênh khênh); lom khom vì thế vừa là láy vần vừa là từ tượng hình.
Có những từ láy bộ phận chỉ đi kèm một tính từ để nhấn mạnh, như từ lặc lè trong nặng lặc lè.
Nhiều từ láy tả mưa cũng thuộc kiểu láy bộ phận, như lâm thâm, lất phất hay mưa lâm râm, mỗi từ gợi một độ dày mỏng khác nhau của hạt mưa.
Ba cách nhận ra một từ láy
- Nhìn âm trước. Hai tiếng có giống nhau ở phụ âm đầu, ở vần, hay giống cả tiếng không? Nếu không có chút gì giống về âm thì gần như chắc chắn không phải từ láy.
- Tách từng tiếng ra hỏi nghĩa. Trong long lanh, tiếng lanh đứng một mình không mang nghĩa gì liên quan tới ánh sáng. Có một tiếng “mất nghĩa” như vậy là dấu hiệu mạnh của từ láy. Ngược lại, nếu cả hai tiếng đều có nghĩa rõ và cùng góp vào nghĩa chung (tươi tốt, học hỏi) thì đó là từ ghép, dù chúng tình cờ giống âm.
- Thử đảo vị trí. Từ ghép đẳng lập đôi khi đảo được (bạn bè thì không, nhưng thương yêu – yêu thương thì được). Từ láy gần như không đảo được mà vẫn giữ nghĩa: không ai nói lanh long hay khom lom.
Mẹo thanh điệu cũng giúp viết đúng: trong từ láy, hai tiếng thường cùng nhóm thanh “ngang – sắc – hỏi” hoặc “huyền – ngã – nặng”. Đó là lí do người ta viết tỉ mỉ chứ không viết “tỉ mĩ”, xem thêm phần mẹo thanh điệu khi viết từ láy.
Bảng phân biệt từ láy với từ ghép
| Tiêu chí | Từ láy | Từ ghép |
|---|---|---|
| Các tiếng liên kết bằng | Âm (lặp âm đầu, vần hoặc cả tiếng) | Nghĩa (mỗi tiếng góp một phần nghĩa) |
| Nghĩa từng tiếng | Thường có tiếng không có nghĩa khi đứng riêng | Các tiếng thường đều có nghĩa |
| Ví dụ dễ | lấp lánh, xinh xinh, bối rối | nhà cửa, xe đạp, quần áo |
| Ví dụ dễ nhầm | xanh xao (nghĩa đã khác hẳn “xanh”) | tươi tốt, mặt mũi, học hỏi, đi đứng (giống âm nhưng hai tiếng đều có nghĩa) |
| Thế mạnh khi dùng | Gợi hình, gợi âm thanh, tạo nhạc điệu | Gọi tên, phân loại sự vật chính xác |
Có một số từ Hán Việt nhìn rất giống từ láy nhưng thực ra là hai chữ Hán ghép lại, chẳng hạn tử tế. Gặp từ lạ như vậy, cách an toàn là tra từ điển trước khi kết luận.
Từ láy trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến và Nguyễn Du
Đề đọc hiểu hỏi từ láy gần như luôn kèm vế “nêu tác dụng”. Mỗi ví dụ dưới đây cho thấy từ láy làm một việc khác nhau.
Dáng người và cảnh chợ trên đèo Ngang
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Lom khom và lác đác đều là láy vần. Từ đầu vẽ dáng người đốn củi cúi thấp, nhỏ bé dưới chân núi; từ sau làm cho mấy mái chợ càng thưa thớt. Đặt ở đầu câu, chúng làm cảnh đèo càng vắng, gợi trước nỗi buồn của người đi đường. Bài hướng dẫn đọc hiểu Qua Đèo Ngang có phân tích kĩ hai câu này.
Cái lạnh của ao thu
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Nguyễn Khuyến dùng lạnh lẽo (láy âm đầu “l”) thay vì chỉ nói “lạnh”. Từ láy kéo dài cảm giác, vừa là khí trời vừa là nỗi hiu quạnh. Câu thứ năm của bài có thêm lơ lửng cho tầng mây, làm không gian thu giãn ra và chậm lại. Xem bài soạn Thu điếu của Nguyễn Khuyến để thấy cả hệ thống vần “eo” đi cùng các từ láy ấy.
Những từ láy giảm nhẹ trong Cảnh ngày xuân
Đoạn tả chị em Thúy Kiều đi chơi xuân trở về dày đặc từ láy: tà tà cho bóng chiều, thơ thẩn cho bước chân hai chị em, thanh thanh cho phong cảnh, nao nao cho dòng nước, nho nhỏ cho nhịp cầu. Phần nhiều là láy toàn bộ, mang sắc thái nhẹ, chậm, như cảm xúc lắng xuống khi cuộc vui đã tàn. Muốn ôn kĩ đoạn thơ, đọc bài soạn đoạn trích Cảnh ngày xuân lớp 9.
Lên Ngữ văn 7 bộ Kết nối tri thức, câu hỏi về xiên xiết, mỏng manh, bé bỏng trong câu hỏi đọc hiểu Bầy chim chìa vôi cũng đi theo đúng hướng đó: tìm từ, rồi nói từ ấy nhấn mạnh điều gì.
Luyện tập: năm câu về từ láy kèm đáp án
Câu 1: Tìm từ láy trong hai câu thơ “Lom khom dưới núi, tiều vài chú / Lác đác bên sông, chợ mấy nhà” và cho biết thuộc kiểu nào.
Đáp án: Hai từ láy là lom khom và lác đác, đều thuộc láy bộ phận, kiểu láy vần (vần “om”, vần “ac”). Chúng gợi dáng người nhỏ bé, cảnh vật thưa thớt, qua đó cho thấy nỗi cô đơn của nhân vật trữ tình.
Câu 2: Xếp các từ sau vào nhóm từ láy hoặc từ ghép: tươi tốt, nho nhỏ, mặt mũi, lấp lánh, học hỏi, xinh xinh, bối rối, đi đứng.
Đáp án: Từ láy: nho nhỏ, lấp lánh, xinh xinh, bối rối. Từ ghép: tươi tốt, mặt mũi, học hỏi, đi đứng. Bốn từ ghép này dễ gây nhầm vì hai tiếng giống phụ âm đầu, nhưng tiếng nào cũng có nghĩa riêng (“mũi” là cái mũi, “hỏi” là hỏi han), nên chúng liên kết bằng nghĩa chứ không phải bằng âm.
Câu 3: So sánh nghĩa của “đỏ” với “đo đỏ”, và “sạch” với “sạch sành sanh”.
Đáp án: Đo đỏ nhạt hơn, nhẹ hơn đỏ: từ láy làm giảm mức độ. Sạch sành sanh thì ngược lại, nhấn mạnh là hết sạch, không còn chút gì. Cùng là từ láy nhưng sắc thái có thể giảm nhẹ hoặc tăng mạnh so với tiếng gốc.
Câu 4: Từ các tiếng “nhỏ”, “lạnh”, “xanh”, hãy tạo mỗi tiếng ít nhất hai từ láy.
Đáp án tham khảo: nhỏ → nhỏ nhắn, nho nhỏ, nhỏ nhoi; lạnh → lạnh lẽo, lành lạnh; xanh → xanh xanh, xanh xao. Lưu ý xanh xao không còn chỉ màu của lá cây mà nói nước da nhợt nhạt vì ốm yếu, ví dụ cho thấy từ láy có thể đổi hẳn nghĩa so với tiếng gốc.
Câu 5: Viết đoạn văn 3–4 câu tả một cơn mưa, trong đó dùng ít nhất ba từ láy và gạch chân chúng.
Đáp án tham khảo: “Chiều qua trời bỗng âm u, rồi mưa đổ ào ào xuống mái tôn. Nước chảy róc rách theo rãnh trước cổng. Đến khi mưa ngớt, mấy giọt còn đọng trên lá lấp lánh như ai vừa rắc hạt cườm.” Bốn từ láy gồm hai từ tượng thanh (ào ào, róc rách) và hai từ gợi hình, gợi màu (âm u, lấp lánh).
Thắc mắc của học sinh khi học từ láy
Từ láy là từ gì, từ đơn hay từ phức?
Từ láy là từ phức, vì có từ hai tiếng trở lên. Trong nhóm từ phức, nó đứng cạnh từ ghép; điểm khác nằm ở cách các tiếng liên kết: láy âm chứ không ghép nghĩa.
Từ láy có nghĩa là gì, hay chỉ để nghe cho êm tai?
Từ láy có nghĩa hẳn hoi, chỉ là nghĩa ấy thường thiên về gợi tả: hình dáng, âm thanh, mức độ, cảm xúc. Ví dụ lênh khênh không chỉ là “cao” mà là cao gầy, trông chông chênh. Vì vậy câu hỏi “nêu tác dụng của từ láy” luôn cần nói rõ từ đó gợi ra điều gì.
Từ láy nghĩa là gì so với nghĩa của tiếng gốc?
Khi có tiếng gốc mang nghĩa, từ láy thường thêm một sắc thái: giảm nhẹ (đỏ → đo đỏ), nhấn mạnh (sạch → sạch sành sanh), hoặc thêm vẻ đáng yêu (nhỏ → nhỏ nhắn). Có trường hợp nghĩa đi xa hẳn, như xanh xao.
Làm sao không nhầm “mặt mũi”, “tươi tốt” là từ láy?
Tách từng tiếng ra và hỏi xem nó có nghĩa không. “Mặt” và “mũi” đều là bộ phận cơ thể; “tươi” và “tốt” đều chỉ tính chất. Hai tiếng đều có nghĩa và cùng tạo nghĩa chung thì đó là từ ghép, dù chúng giống nhau ở chữ cái đầu.