Từ đa nghĩa là từ có từ hai nghĩa trở lên, trong đó có một nghĩa gốc và một hay nhiều nghĩa chuyển, các nghĩa vẫn liên hệ với nhau. Sách cũ gọi là từ nhiều nghĩa; Tiếng Việt 5 và Ngữ văn 6 bộ mới thường gọi là từ đa nghĩa. Chữ “ăn” trong ăn cơm, ăn ảnh, xe ăn xăng là một ví dụ: nghĩa khác nhau nhưng đều xuất phát từ hoạt động đưa thức ăn vào cơ thể.
| Khái niệm | Một từ mang nhiều nghĩa có liên hệ, gồm nghĩa gốc và nghĩa chuyển |
| Tên gọi khác | Từ nhiều nghĩa (Tiếng Việt 5 sách cũ) |
| Dấu hiệu nhận biết | Các nghĩa có nét chung về hình dáng, vị trí, chức năng hay tính chất |
| Dễ nhầm với | Từ đồng âm: cùng vỏ âm thanh nhưng nghĩa không dính dáng nhau |
| Học ở | Tiếng Việt 5 (Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo), Ngữ văn 6 |

Từ đa nghĩa trong sách Tiếng Việt, Ngữ văn
Sách Tiếng Việt 5 chương trình cũ gọi hiện tượng này là từ nhiều nghĩa và nhấn vào hai ý: trong các nghĩa luôn có một nghĩa gốc, những nghĩa còn lại sinh ra từ đó; giữa chúng luôn có sợi dây liên hệ. Sách mới giữ nội dung ấy, chỉ đổi tên thành từ đa nghĩa. Lên lớp 6, học sinh học lại kĩ hơn, đặt từ đa nghĩa cạnh từ đồng âm để so sánh.
Mở Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) sẽ thấy hiện tượng này rõ trên mặt giấy: một mục từ có nhiều nghĩa được đánh số 1, 2, 3… liền nhau. Ngược lại, các từ đồng âm thường được tách thành những mục riêng. Cách trình bày ấy chính là ranh giới giữa hai khái niệm.
Gần như mọi từ quen thuộc trong tiếng Việt đều đa nghĩa: đầu, tay, mũi, lá, chạy, ngọt, nặng. Một từ chỉ có đúng một nghĩa thường là thuật ngữ khoa học (ô-xi, tam giác) hoặc tên riêng. Muốn biết vì sao từ có nghĩa và nghĩa của từ được giải thích thế nào, xem bài khái niệm từ và nghĩa của từ ở lớp 6.
Nghĩa gốc sinh ra nghĩa chuyển bằng hai con đường
Hiểu nghĩa gốc và nghĩa chuyển là chìa khóa của cả bài. Nghĩa gốc xuất hiện trước tiên, thường gọi tên sự vật, hoạt động cụ thể, hiểu được ngay mà không cần ngữ cảnh. Nghĩa chuyển là nghĩa hình thành sau, dựa trên nghĩa gốc, và thường phải có ngữ cảnh mới hiểu đúng. Từ nghĩa gốc sang nghĩa chuyển, tiếng Việt hay đi bằng hai lối.
Lối thứ nhất: dựa vào nét giống nhau. Lá cây mỏng, dẹt, nên tờ giấy viết thư cũng gọi là lá thư, mảnh vải trên cột cờ gọi là lá cờ, bộ phận hình lá trong ngực gọi là lá phổi. Mũi người nhô ra phía trước, nên phần nhọn đầu thuyền thành mũi thuyền, phần đất nhô ra biển thành mũi Cà Mau. Đây là cơ chế của phép ẩn dụ, gọi tên sự vật này bằng tên sự vật khác có nét tương đồng; xem thêm ở bài ẩn dụ dựa trên nét tương đồng.
Lối thứ hai: dựa vào quan hệ gần gũi. Tay là bộ phận để làm việc, nên người giỏi một nghề được gọi là tay nghề cao, một tay vợt, một tay trống. Miệng là bộ phận để ăn, nên “nhà có năm miệng ăn” nghĩa là năm người. Ở đây bộ phận đứng thay cho cả người, đúng như phép hoán dụ và các kiểu quan hệ gần gũi.
Có điều cần lưu ý: khi nghĩa chuyển đã cố định và có trong từ điển (chân bàn, mũi thuyền), ta không coi đó là phép tu từ nữa. Ẩn dụ, hoán dụ tu từ là cách dùng mới, lâm thời, do người viết tạo ra trong một câu cụ thể.
Chữ dài đi từ độ dài sợi dây sang độ dài một ngày, và ở mỗi nghĩa lại có từ thay riêng, xếp trong bài đồng nghĩa, trái nghĩa với dài.
Một chữ “ăn”, bao nhiêu nghĩa?
“Ăn” là ví dụ cho thấy một từ đa nghĩa có thể “mọc nhánh” xa đến đâu.
| Câu | Nghĩa của “ăn” | Liên hệ với nghĩa gốc |
|---|---|---|
| Em ăn hai bát cơm. | Đưa thức ăn vào miệng, nhai, nuốt (nghĩa gốc) | — |
| Chiếc xe này ăn nhiều xăng. | Tiêu thụ nhiên liệu | Máy “nạp” vào như người ăn |
| Cô ấy rất ăn ảnh. | Hiện lên đẹp trong ảnh | Hợp với, “nhận” tốt |
| Nước biển ăn mòn chân cầu. | Làm hao mòn dần | Như bị gặm dần |
| Tàu đang ăn hàng ở cảng. | Nhận hàng lên tàu | Như “nuốt” hàng vào khoang |
| Bạn ấy ăn điểm ở câu cuối. | Giành được điểm | Thu về cho mình |
Không cần thuộc hết các nghĩa. Điều quan trọng là thấy được sợi dây nối các nghĩa: dù xa nghĩa gốc, mỗi nghĩa chuyển vẫn giữ một nét “đưa vào, thu về, tiêu hao” của hoạt động ăn. Sợi dây ấy chính là điều phân biệt từ đa nghĩa với từ đồng âm.
Động từ cắt cũng nhiều nghĩa như vậy, từ cắt cỏ, cắt điện đến cắt người trực, và mỗi nghĩa có nhóm từ thay riêng trong bài các từ thay cho cắt theo từng nghĩa.
Đa nghĩa hay đồng âm: phân biệt bằng một câu hỏi
Muốn phân biệt từ đa nghĩa và từ đồng âm, chỉ cần một câu hỏi then chốt: các nghĩa có giải thích được cho nhau không? Nếu có, đó là một từ đa nghĩa. Nếu không, đó là các từ đồng âm, tình cờ trùng vỏ âm thanh.
| Tiêu chí | Từ đa nghĩa | Từ đồng âm |
|---|---|---|
| Số từ | Một từ, nhiều nghĩa | Hai (hay nhiều) từ khác nhau, đọc giống nhau |
| Quan hệ giữa các nghĩa | Có nét chung, suy ra được từ nghĩa gốc | Không liên quan |
| Trong từ điển | Một mục, các nghĩa đánh số | Thường là các mục riêng |
| Ví dụ | cổ người, cổ áo, cổ chai (đều là chỗ thắt lại nối hai phần) | cổ (cái cổ) và cổ trong đồ cổ (xưa, cũ) |
| Ví dụ khác | đầu người, đầu làng, đầu năm | đậu (hạt đậu), chim đậu cành, thi đậu |
Một mẹo nữa: thử đặt hai nghĩa vào cùng một câu. Con ruồi đậu mâm xôi đậu đọc lên vui tai chính vì hai chữ “đậu” chẳng liên quan gì nhau, người ta dùng đồng âm để chơi chữ. Với từ đa nghĩa, ghép kiểu ấy không tạo ra bất ngờ nào.
Dạng bài phân biệt này xuất hiện đều trong đề cuối năm lớp 6, ví dụ phần tiếng Việt của đề ôn cuối năm Ngữ văn 6 bộ Chân trời. Ở tiểu học, bài thực hành đầu tiên về hiện tượng này có trong bài Trạng nguyên nhỏ tuổi lớp 5.
Luyện tập: nghĩa gốc, nghĩa chuyển, đồng âm
Câu 1: Từ “đầu” trong câu nào mang nghĩa gốc? a) Đầu làng có cây đa. b) Bé đội mũ lên đầu. c) Đầu năm học, lớp bầu ban cán sự.
Đáp án: Câu b. Ở đó “đầu” là bộ phận trên cùng của cơ thể người. Câu a (phần đầu tiên của làng) và câu c (khoảng thời gian bắt đầu) là nghĩa chuyển, cùng giữ nét “vị trí trước tiên”.
Câu 2: Giải thích nghĩa của từ “ngọt” trong: “quả xoài ngọt”, “giọng nói ngọt”, “con dao sắc ngọt”.
Đáp án: “Quả xoài ngọt”: có vị như đường, đây là nghĩa gốc. “Giọng nói ngọt”: dịu dàng, dễ nghe. “Dao sắc ngọt”: sắc đến mức cắt nhẹ, êm. Hai nghĩa sau là nghĩa chuyển, cùng gợi cảm giác dễ chịu.
Câu 3: Hai từ “bàn” trong câu “Cả nhóm ngồi quanh bàn để bàn kế hoạch” là từ đa nghĩa hay đồng âm?
Đáp án: Đồng âm. “Bàn” thứ nhất là đồ vật có mặt phẳng, “bàn” thứ hai là trao đổi ý kiến; hai nghĩa không suy ra được từ nhau.
Câu 4: Tìm ba nghĩa chuyển của từ “chạy” và đặt câu.
Đáp án (gợi ý): Máy chạy êm (hoạt động). Con đường chạy dọc bờ sông (trải dài theo một hướng). Mẹ chạy vạy lo tiền học (lo liệu, xoay xở). Nghĩa gốc là di chuyển nhanh bằng chân.
Những điều học sinh hay nhầm về từ đa nghĩa
Từ nhiều nghĩa là gì, có khác từ đa nghĩa không?
Không khác. “Đa” là từ Hán Việt nghĩa là nhiều, nên từ đa nghĩa và từ nhiều nghĩa là hai cách gọi của cùng một hiện tượng. Sách cũ dùng “từ nhiều nghĩa”, sách mới hay dùng “từ đa nghĩa”.
Nghĩa gốc và nghĩa chuyển nhận ra bằng cách nào?
Nghĩa gốc thường chỉ sự vật, hoạt động cụ thể, có trước, hiểu được ngay khi đứng một mình. Nghĩa chuyển ra đời sau, thường trừu tượng hơn và cần câu văn cụ thể để hiểu. Nếu phân vân, hãy hỏi: nghĩa nào giải thích được cho các nghĩa còn lại? Đó là nghĩa gốc.
Từ đa nghĩa và từ đồng âm có lúc nào khó phân biệt không?
Có. Khi nghĩa chuyển đi quá xa, mối liên hệ mờ dần, các nhà ngôn ngữ học có thể xếp khác nhau. Gặp trường hợp như vậy trong bài kiểm tra, nên chọn những ví dụ mà sách giáo khoa đã phân tích.
Vì sao tiếng Việt có nhiều từ đa nghĩa như vậy?
Vì dùng lại một từ quen để gọi cái mới tiết kiệm hơn tạo từ mới. Người ta thấy chân bàn giống chân người nên gọi luôn là “chân”, không cần đặt tên riêng. Nhờ vậy vốn từ không phình ra quá nhiều mà vẫn đủ để gọi tên mọi thứ.
Nghĩa chuyển là gì?
Là nghĩa hình thành sau, được suy ra từ nghĩa gốc nhờ một nét giống nhau hoặc một mối liên hệ gần gũi. Chẳng hạn chân trong chân người là nghĩa gốc; chân bàn, chân núi là nghĩa chuyển, vì cùng chỉ phần dưới cùng đỡ lấy cả vật. Muốn biết một từ đang dùng nghĩa chuyển, hãy nhìn những từ đi kèm với nó trong câu.