Tiên trách kỷ hậu trách nhân là câu Hán Việt khuyên trước hết hãy xét lỗi của mình, sau đó mới trách người khác. Hỏi “tiên trách kỷ hậu trách nhân có nghĩa là gì” thì dịch sát chữ là: trước trách mình, sau trách người. Câu này thường được đem ra khi có chuyện hỏng việc mà ai cũng vội chỉ tay sang người bên cạnh.
| Nghĩa ngắn | Trách mình trước, trách người sau |
| Chữ Hán | 先責己後責人 |
| Loại | Câu thành ngữ Hán Việt, dùng như lời khuyên |
| Gần nghĩa | Tự kiểm điểm, nhìn lại mình, nhận phần lỗi về mình |
| Trái ý | Đổ lỗi, đổ thừa, đùn đẩy trách nhiệm |

Tiên trách kỷ hậu trách nhân: hai vế
Tách từng chữ ra thì câu này không khó:
- Tiên (先): trước, như trong tiên phong, tổ tiên.
- Trách (責): đòi hỏi, bắt phải làm tròn; cũng có nghĩa là chê lỗi, như trong trách móc, khiển trách, trách nhiệm.
- Kỷ (己): mình, bản thân.
- Hậu (後): sau, như trong hậu quả, hậu bối.
- Nhân (人): người, ở đây là người khác.
Điều cần để ý là chữ “trước” và “sau”. Câu này không cấm trách người. Nó chỉ sắp lại thứ tự: tự soi mình đã, thấy phần mình sai thì nhận và sửa, rồi mới nói đến phần của người khác. Chữ trách ở đây gần với nghĩa đòi hỏi bản thân phải làm tròn phận sự, giống nét nghĩa được giải trong bài về chữ trách nằm trong hai chữ trách nhiệm.
Ví dụ: Đội thua trận, thầy chủ nhiệm chỉ nhắc một câu: “Tiên trách kỷ hậu trách nhân, các em xem lại phần mình trước đã.”
Câu này từ đâu ra
Chưa tìm được văn bản cổ nào chép đúng nguyên sáu chữ này, nên khó nói câu ra đời ở đâu, khi nào. Có lẽ đây là cách người đời sau tóm ý từ nhiều lời dạy của Nho gia. Hai câu gần nghĩa nhất đều nằm trong thiên Vệ Linh Công của sách Luận ngữ:
躬自厚而薄責於人,則遠怨矣。
Cung tự hậu nhi bạc trách ư nhân, tắc viễn oán hĩ.
Ý là: tự trách mình nặng mà trách người nhẹ thì tránh được oán giận. Cũng thiên ấy còn câu quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân (君子求諸己,小人求諸人): người quân tử đòi hỏi ở mình, kẻ tiểu nhân đòi hỏi ở người. Đọc những câu này cạnh nhau sẽ thấy “tiên trách kỷ hậu trách nhân” là cách nói gọn, dễ nhớ của cùng một tinh thần. Sách Luận ngữ còn để lại nhiều câu đã thành thành ngữ trong tiếng Việt, ví như lời dạy lấy hòa khí làm quý.
Nói thuần Việt thì nói thế nào?
Tiếng Việt có nhiều cách diễn đạt cùng ý, mức độ trang trọng khác nhau:
| Cách nói | Dùng khi nào |
|---|---|
| Trách mình trước, trách người sau | Lời khuyên đời thường, dịch thẳng câu Hán Việt |
| Tự kiểm điểm, nhìn lại bản thân | Họp lớp, họp cơ quan, văn bản |
| Nhận lỗi về mình | Chuyện gia đình, bạn bè |
| Đổ lỗi, đổ thừa (trái ý) | Phê phán người không chịu nhận phần sai |
Hay bị đặt cạnh câu này là tiên phát chế nhân (先發制人), nhưng hai câu chẳng liên quan gì nhau: một bên nói chuyện tự xét mình, một bên là ra tay trước để khống chế đối phương. Giống nhau chỉ ở chữ “tiên” và chữ “nhân”. Nghĩa từng chữ và điển tích Hạng Vũ trong sách Hán thư của câu kia có ở bài tiên phát chế nhân là gì.
Khi nào nên nhắc câu này, khi nào không?
Câu này hợp nhất khi một việc chung bị hỏng: nhóm thuyết trình bị điểm kém, hai bạn cãi nhau, gia đình lục đục vì chuyện nhỏ. Mỗi người tự hỏi “phần của mình đã ổn chưa” thì câu chuyện thường dịu đi rất nhanh.
Nhưng đừng hiểu lệch. Trách mình trước không có nghĩa là nhận hết lỗi về mình, càng không phải im lặng khi bị bắt nạt hay bị đối xử bất công. Người bị hại không có lỗi chỉ vì họ là người bị hại. Câu này dạy sự công bằng với chính mình, không dạy tự dằn vặt.
Với đề nghị luận “Suy nghĩ về câu tiên trách kỷ hậu trách nhân”, có thể đi theo ba ý: giải thích nghĩa từng vế; vì sao cần xét mình trước (nhận ra chỗ yếu để sửa, giữ hòa khí, được người khác tin); giới hạn của lời khuyên (không đổ hết lỗi cho bản thân, vẫn cần góp ý thẳng thắn với người sai). Câu dẫn từ Luận ngữ ở trên là dẫn chứng gọn cho phần mở bài. Muốn hiểu thêm vì sao câu ngắn bốn, sáu chữ kiểu này được xếp vào loại cụm từ cố định, xem bài thành ngữ là gì và khác tục ngữ chỗ nào.
Chữ kỷ ở đây cũng là chữ trong lối sống vị kỷ, nhưng một bên là tự xét mình, một bên là chỉ biết lo cho mình.
Ngược hẳn tinh thần ấy là thói đổ lỗi cho nạn nhân, khi người ta quay sang soi lỗi của chính người bị hại thay vì kẻ gây ra chuyện.
Tiên trách kỷ hậu trách nhân: hỏi gì đáp nấy
Tiên trách kỷ hậu trách nhân có nghĩa là gì?
Nghĩa là trước hết tự xét lỗi của mình, sau mới xét đến lỗi người khác. Câu dùng để khuyên người ta đừng vội đổ lỗi khi có chuyện không như ý.
Câu này có trong Luận ngữ không?
Nguyên văn sáu chữ thì không thấy trong Luận ngữ. Ý tứ thì rất gần câu “cung tự hậu nhi bạc trách ư nhân” ở thiên Vệ Linh Công: nghiêm với mình, nhẹ với người.
Tiên trách kỷ hậu trách nhân tiếng Anh nói thế nào?
Không có câu cố định tương đương. Có thể dịch nghĩa là blame yourself before you blame others, hoặc diễn ý look at your own faults first.
Viết “trách kỷ” hay “trách kỉ”?
Cả hai đều gặp, vì chữ 己 có thể viết y hoặc i theo các quy định chính tả khác nhau. Trên sách báo, dạng “tiên trách kỷ hậu trách nhân” phổ biến hơn.