So sánh là biện pháp tu từ đặt hai đối tượng có điểm giống nhau bên cạnh nhau, lấy cái quen thuộc soi sáng cái cần nói, để câu văn gợi hình, gợi cảm hơn. Câu “Trẻ em như búp trên cành” là một phép so sánh: trẻ em được đặt cạnh búp non vì cùng non nớt, cần nâng niu. Phần được đem ra làm chuẩn, như “búp trên cành”, thường gọi là hình ảnh so sánh.
| Nghĩa | Đặt hai đối tượng có nét tương đồng cạnh nhau để làm nổi bật một đối tượng |
| Thuộc | Biện pháp tu từ từ vựng, học từ tiểu học, ôn lại ở Ngữ văn 6, 7 |
| Dấu hiệu nhận biết | Có hai vế và thường có từ so sánh: như, là, giống như, tựa, hơn, kém, chẳng bằng… |
| Hai kiểu chính | So sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng |

Biện pháp so sánh được hiểu thế nào trong sách Ngữ văn?
Trong đời thường, “so sánh” chỉ là đặt hai thứ cạnh nhau xem hơn kém: so sánh giá hai chiếc cặp, so sánh điểm hai bài kiểm tra. Trong văn chương, biện pháp so sánh khác ở một chỗ: hai đối tượng thường khác loại nhưng có một nét chung bất ngờ. Đem đôi má em bé so với quả táo chín, đem tiếng suối so với tiếng hát, người đọc lập tức “thấy” được điều tác giả muốn nói.
Sách Ngữ văn nêu khái niệm theo hướng ấy: người viết tìm nét giống nhau giữa hai đối tượng rồi đặt chúng cạnh nhau, nhằm làm lời văn giàu hình ảnh và cảm xúc hơn. Nói theo cách thầy cô hay dặn, tác dụng của so sánh là gợi hình và gợi cảm. Gợi hình vì cái trừu tượng, khó tả được kéo về một hình ảnh cụ thể. Gợi cảm vì hình ảnh đó mang theo thái độ: khen, chê, thương, quý.
So sánh là phép tu từ dễ nhận ra nhất, nên thường được học trước. Khi đã quen, học sinh sẽ gặp lại nó trong ẩn dụ, vốn là một kiểu so sánh giấu bớt vế. Cả họ hàng các phép tu từ được tổng hợp trong bài tổng quan về các phép tu từ tiếng Việt.
Văn bản thông tin cũng dùng so sánh, nhưng để người đọc ước lượng đúng kích thước, số lượng; cách dùng ấy nằm trong các phương pháp thuyết minh.
Bốn bộ phận của một phép so sánh
Đủ bộ thì phép so sánh có bốn phần. Lấy câu tự đặt “Đôi má em bé đỏ như quả cà chua chín” để soi:
| Vế A (sự vật được so sánh) | Phương diện so sánh | Từ so sánh | Vế B (sự vật dùng để so sánh) |
|---|---|---|---|
| Đôi má em bé | đỏ | như | quả cà chua chín |
| Trẻ em | (ẩn: non nớt) | như | búp trên cành |
| Công cha | (ẩn: to lớn) | như | núi Thái Sơn |
| Mây | (ẩn: mềm, óng) | thua | nước tóc |
Không phải phép so sánh nào cũng đủ bốn phần. Phương diện so sánh hay bị lược, người đọc tự hiểu. Từ so sánh đôi khi cũng vắng, thay bằng dấu hai chấm hoặc dấu gạch ngang. Có câu còn đảo vế B lên trước vế A để nhấn mạnh. Riêng hai vế A và B thì gần như luôn có mặt; nếu vế A biến mất, ta đang chạm sang ẩn dụ.
Vế B chính là thứ mà nhiều đề bài gọi là “hình ảnh so sánh”. Hình ảnh này càng gần gũi, càng cụ thể thì phép so sánh càng dễ đi vào lòng người. Người Việt hay lấy vế B từ làng quê: núi, sông, cây lúa, con trâu, giọt sương.
So sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng
Sách Ngữ văn chia so sánh theo mức độ thành hai kiểu.
- So sánh ngang bằng: hai vế được coi là tương đương. Từ so sánh hay gặp: như, giống như, tựa, tựa như, y như, là, bao nhiêu… bấy nhiêu.
- So sánh không ngang bằng: một vế hơn hoặc kém vế kia. Từ so sánh hay gặp: hơn, kém, thua, chẳng bằng, không bằng, chưa bằng.
So sánh không ngang bằng thường mạnh hơn về cảm xúc, vì nó đẩy một vế lên trên cả cái chuẩn. Câu tự đặt “Lời mẹ dặn còn ấm hơn chiếc áo len mẹ đan” đặt tình mẹ cao hơn một vật vốn đã ấm áp.
Ở tiểu học, các em còn học cách chia theo đối tượng: so sánh sự vật với sự vật, sự vật với con người, âm thanh với âm thanh, hoạt động với hoạt động. Cách chia này giúp nhận ra cả những phép so sánh không có hình ảnh nhìn thấy được, như so tiếng suối với tiếng hát.
Từ so sánh ngang bằng quen nhất là như; những từ thay được cho nó như tựa, y như, hệt như được so sắc thái ở đồng nghĩa, trái nghĩa với như.
Soi phép so sánh trong ca dao, thơ Bác và Truyện Kiều
Hai câu thơ Bác Hồ viết cho thiếu nhi là ví dụ kinh điển của so sánh ngang bằng:
Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan.
Búp non thì mềm, tươi, đang lớn, gặp gió mạnh dễ gãy. Đặt trẻ em cạnh hình ảnh ấy, câu thơ vừa khen sự trong trẻo, vừa nhắc người lớn phải chăm chút.
Ca dao dùng so sánh để nói những điều lớn lao bằng hình ảnh quen thuộc:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Công cha vốn không đo được, nhưng khi so với ngọn núi cao, người nghe hình dung ngay sự vững chãi, to lớn. Nghĩa mẹ gắn với dòng nước trong chảy mãi không cạn. Hai phép so sánh ngang bằng đứng song song, tạo thành câu đối tự nhiên, dễ thuộc. Một câu ca dao khác dùng cặp từ so sánh bao nhiêu… bấy nhiêu: “Qua đình ngả nón trông đình, / Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”. Tình thương được đếm bằng số ngói trên mái đình, tức là nhiều không kể xiết.
So sánh không ngang bằng có ví dụ đẹp trong đoạn tả Thúy Vân của Nguyễn Du:
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Mây phải “thua” mái tóc, tuyết phải “nhường” làn da: thiên nhiên chịu lép trước vẻ đẹp của Vân. Từ so sánh ở đây là những động từ mang dáng người, nên câu thơ vừa so sánh vừa nhân hóa. Đọc lại cả đoạn trong bài tuyển bài phân tích đoạn Chị em Thúy Kiều sẽ thấy Nguyễn Du dùng cách này cho cả hai chị em, nhưng với Kiều thì “hoa ghen”, “liễu hờn”.
Khi phân tích, đừng dừng ở chỗ gọi tên “đây là so sánh”. Hãy chỉ ra hai vế, nét giống nhau, rồi nói hình ảnh ấy gợi cảm xúc gì. Lưu ý thêm: chữ “so sánh” trong đề “so sánh hai tác phẩm” là chuyện khác, đó là thao tác lập luận, như trong bài văn đặt Hoàng Hạc lâu cạnh Tràng giang.
So sánh khác ẩn dụ ở đâu?
| Tiêu chí | So sánh | Ẩn dụ |
|---|---|---|
| Vế A | Có mặt | Bị giấu đi |
| Từ so sánh | Thường có (như, là, hơn…) | Không có |
| Cách đọc | Người đọc thấy rõ hai vế | Người đọc phải tự đoán vế bị giấu |
| Ví dụ | “Bác như mặt trời ấm áp.” | “Mặt trời của chúng em đã về thăm lớp.” (mặt trời chỉ Bác) |
Có thể coi ẩn dụ là so sánh đã được rút gọn đến mức chỉ còn vế B. Muốn ôn cho chắc kiểu so sánh ngầm này, đọc bài ẩn dụ, kiểu so sánh ngầm. Còn khi từ so sánh là những động từ chỉ người như “ghen”, “hờn”, “thua”, câu thơ có thể chứa cả so sánh lẫn nhân hóa, và cả hai đều được ghi nhận khi làm bài.
Luyện nhận diện phép so sánh
Câu 1: Tìm phép so sánh và chỉ ra bốn bộ phận trong câu: “Mặt hồ phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ.”
Đáp án: Vế A: mặt hồ. Phương diện so sánh: phẳng lặng. Từ so sánh: như. Vế B: một tấm gương khổng lồ. Đây là so sánh ngang bằng, đủ cả bốn bộ phận.
Câu 2: Câu “Ngôi nhà mới của bà ngoại cao hơn ngôi nhà cũ” có phải biện pháp tu từ so sánh không?
Đáp án: Không. Đây là so sánh thông thường: hai đối tượng cùng loại (nhà với nhà), chỉ nêu chênh lệch về chiều cao, không nhằm gợi hình, gợi cảm.
Câu 3: Phép so sánh trong câu “Tiếng chim hót trong vườn còn trong hơn tiếng sáo” thuộc kiểu nào?
Đáp án: So sánh không ngang bằng (từ so sánh “hơn”). Đây cũng là kiểu so sánh âm thanh với âm thanh.
Câu 4: Câu sau dùng so sánh hay ẩn dụ? “Thuyền về có nhớ bến chăng?”
Đáp án: Ẩn dụ. Thuyền và bến chỉ người đi và người ở lại, nhưng hai đối tượng thật bị giấu, cũng không có từ so sánh nào.
Câu 5: Đặt một câu có phép so sánh nói về cô giáo, rồi nêu tác dụng.
Đáp án gợi ý: “Giọng cô giảng bài dịu dàng như tiếng mưa xuân.” Phép so sánh ngang bằng giúp người đọc hình dung giọng nói nhẹ, êm, dễ nghe, đồng thời bày tỏ tình cảm quý mến của học trò.
Học sinh hỏi gì về phép so sánh
Hình ảnh so sánh là gì?
Hình ảnh so sánh là sự vật, sự việc được dùng làm chuẩn để đối chiếu, tức là vế B. Trong “Trẻ em như búp trên cành”, hình ảnh so sánh là “búp trên cành”.
Tác dụng của so sánh là gì?
So sánh làm cho đối tượng hiện lên cụ thể, sinh động (gợi hình) và bộc lộ thái độ, tình cảm của người viết (gợi cảm). Khi trả lời, nên nêu tác dụng gắn với chính câu văn đang xét chứ không chỉ chép câu chung.
Từ “là” có phải lúc nào cũng là từ so sánh không?
Không. “Lan là học sinh lớp 6” chỉ là câu giới thiệu. Chữ “là” thành từ so sánh khi nó nối hai đối tượng khác loại có nét giống nhau, như “Quê hương là chiếc cầu tre nhỏ” (câu tự đặt).
So sánh ngang bằng là gì?
Là kiểu so sánh coi hai vế tương đương nhau, dùng các từ như, giống như, tựa như, bao nhiêu… bấy nhiêu. Kiểu còn lại, dùng hơn, kém, chẳng bằng, gọi là so sánh không ngang bằng.