Nữ quyền là quyền của phụ nữ, hiểu theo nghĩa rộng là quyền được đối xử ngang bằng với nam giới trong học hành, việc làm, gia đình và đời sống xã hội. Ngày nay chữ này còn dùng để gọi tư tưởng và các phong trào đòi những quyền ấy, tức chủ nghĩa nữ quyền (tiếng Anh: feminism). Người ủng hộ tư tưởng này được gọi là nhà nữ quyền hay người theo chủ nghĩa nữ quyền.
| Nghĩa ngắn | Quyền của phụ nữ; tư tưởng và phong trào đòi bình đẳng cho phụ nữ |
| Gốc từ | Hán Việt 女權: nữ (phụ nữ) + quyền (quyền lợi, quyền hạn) |
| Tiếng Anh | women’s rights (quyền phụ nữ), feminism (chủ nghĩa nữ quyền) |
| Thuộc | Khái niệm xã hội, gắn với bình đẳng giới |

Nữ quyền nói về quyền gì?
Thú vị là từ điển tiếng Việt xếp nữ quyền vào nhóm từ cũ, giảng là quyền lợi về chính trị và xã hội của phụ nữ nói chung, với ví dụ “bênh vực nữ quyền”, “tranh đấu cho nữ quyền”. Nhưng khi cần một chữ để chuyển ý feminism sang tiếng Việt, người ta lại dùng chính nó, và nghĩa được mở rộng hơn.
Các bách khoa thư hiện nay mô tả chủ nghĩa nữ quyền là tập hợp những phong trào và tư tưởng hướng tới bình đẳng giữa hai giới về chính trị, kinh tế, đời sống cá nhân và xã hội. Như vậy, trong cách nói hằng ngày, “nữ quyền” có hai tầng nghĩa:
- Các quyền cụ thể của phụ nữ: đi học, đi bầu, làm việc và được trả lương công bằng, sở hữu tài sản, được an toàn trước bạo lực.
- Quan điểm và hoạt động bảo vệ, đòi các quyền ấy, như khi nói “phong trào nữ quyền”, “tư tưởng nữ quyền”.
Vì sao phong trào nữ quyền ra đời?
Lý do gốc là trong rất nhiều xã hội, phụ nữ từng bị đặt dưới quyền đàn ông bằng cả luật lệ lẫn phong tục: không được đi học cao, không được đi bầu, không đứng tên tài sản sau khi lấy chồng. Ở phương Đông, quan niệm “trọng nam khinh nữ” cùng những chuẩn mực như tứ đức công dung ngôn hạnh của Nho giáo định sẵn vai trò của người phụ nữ trong nhà.
Ở châu Âu, cuốn A Vindication of the Rights of Woman của Mary Wollstonecraft in năm 1792 thường được coi là một trong những tác phẩm đặt nền cho tư tưởng nữ quyền: bà lập luận rằng phụ nữ cần được học hành và hưởng quyền như nam giới. Năm 1893, New Zealand trở thành quốc gia tự quản đầu tiên cho mọi phụ nữ trưởng thành quyền bầu cử quốc hội. Các nhà nghiên cứu thường chia lịch sử phong trào thành những “làn sóng”: làn sóng thứ nhất đòi quyền bầu cử và quyền pháp lý; làn sóng thứ hai từ thập niên 1960 đòi bình đẳng trong việc làm, gia đình; các làn sóng sau chú ý hơn tới sự đa dạng và tới mạng xã hội.
Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1946 có điều khoản ngắn gọn “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9). Ngày 29/11/2006, Quốc hội thông qua Luật Bình đẳng giới.
Nữ quyền trong bữa cơm, lớp học và công sở
Nữ quyền không chỉ có ở hội nghị hay khẩu hiệu. Nó hiện ra trong những chuyện rất thường ngày:
- Con gái được cho đi học đến nơi đến chốn như con trai, được chọn ngành kỹ thuật nếu thích.
- Hai người làm cùng một việc thì nhận cùng một mức lương; thăng chức xét theo năng lực, không theo giới.
- Việc nhà, việc chăm con được chia sẻ, thay vì mặc định là phần của vợ.
- Phụ nữ có quyền nói “không” và được bảo vệ trước bạo lực gia đình, quấy rối nơi công cộng.
- Không ai bị chê “con gái học lắm làm gì” hay bị ép bỏ việc khi lấy chồng.
Ngược lại, những câu như “đàn bà biết gì mà nói” hay thói một người trong nhà quyết hết mọi chuyện là các biểu hiện mà tư tưởng nữ quyền muốn thay đổi.
Nữ quyền, bình đẳng giới, nữ tính: ba chữ khác nhau
| Khái niệm | Nhấn vào | Ghi chú |
|---|---|---|
| Nữ quyền | Quyền của phụ nữ và cuộc vận động cho các quyền ấy | Xuất phát từ thực tế phụ nữ từng bị thiệt |
| Bình đẳng giới | Nam và nữ có vị trí, cơ hội ngang nhau | Thuật ngữ trong luật Việt Nam; quan tâm cả nam giới |
| Nữ tính | Nét dịu dàng, mềm mại gắn với phụ nữ | Không liên quan đến quyền; dễ nhầm vì cùng chữ nữ |
Hai khái niệm đầu gần nhau nhưng không trùng: nữ quyền là một con đường, bình đẳng giới là cái đích mà con đường ấy hướng tới. Phần luật và đời sống có ở bài nam nữ ngang quyền theo luật và trong đời sống. Cũng có người hiểu nữ quyền là đề cao phụ nữ hơn đàn ông; theo phần lớn định nghĩa phổ biến, mục tiêu là ngang bằng chứ không phải đảo ngược thứ bậc.
Tiếng nói cho phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương
Thời trung đại chưa có chữ nữ quyền theo nghĩa hôm nay, nhưng văn học đã có những tiếng nói thương thân phận người phụ nữ và khẳng định phẩm giá của họ. Hồ Xuân Hương mở bài thơ quen thuộc của mình bằng hai câu:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Chiếc bánh trôi trắng, tròn là vẻ đẹp; “bảy nổi ba chìm” là số phận lênh đênh, phụ thuộc vào tay người nặn. Thế nhưng câu kết lại khẳng định tấm lòng son vẫn giữ nguyên. Đọc thêm phần tìm hiểu tác phẩm ở bài Bánh trôi nước trong Ngữ văn 7. Học sinh hay dùng bài thơ này làm dẫn chứng khi viết về thân phận và khát vọng bình đẳng của người phụ nữ xưa.
Nữ quyền ngoài trang sách: vài điều học trò hay gặp
Chủ nghĩa nữ quyền là gì?
Là hệ tư tưởng cho rằng phụ nữ bị đối xử thiệt thòi so với nam giới và cần được ngang quyền về chính trị, kinh tế, xã hội. Từ đó có các phong trào vận động thay đổi luật lệ và nếp nghĩ.
Nữ quyền tiếng Anh là gì?
Quyền của phụ nữ là women’s rights; chủ nghĩa nữ quyền là feminism, người theo tư tưởng ấy là feminist.
Nam giới có thể ủng hộ nữ quyền không?
Có. Ủng hộ nữ quyền là ủng hộ sự đối xử công bằng, nên ai cũng có thể làm, từ việc chia sẻ việc nhà đến việc không đùa cợt hạ thấp phụ nữ.
Ngày 8/3 có liên quan đến nữ quyền không?
Có. Ngày Quốc tế Phụ nữ ra đời từ các cuộc vận động của phụ nữ lao động đòi quyền lợi; lịch sử của nó được kể ở bài ngày 8 tháng 3 bắt đầu từ đâu.