Tác phẩm Vũ Bằng là những trang văn thấm đẫm nỗi nhớ Hà Nội: nhớ mưa phùn tháng Giêng, nhớ hương cốm làng Vòng, nhớ bát phở, gánh bún, nhớ người vợ ở lại phía bên kia vĩ tuyến. Từ Miếng ngon Hà Nội đến Thương nhớ mười hai, ông đã biến món ăn và mùa màng thành văn chương đích thực. Hãy cùng Văn VN điểm qua những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông.
Đôi nét về nhà văn Vũ Bằng
Vũ Bằng là nhà văn, nhà báo nổi tiếng từ trước năm 1945. Cuộc đời ông gắn với hai thành phố – Hà Nội và Sài Gòn – và với một nhiệm vụ đặc biệt mà mãi nhiều năm sau khi ông mất mới được công bố rộng rãi.

- Tên thật: Vũ Đăng Bằng.
- Năm sinh – năm mất: 3/6/1913 – 7/4/1984.
- Quê quán: sinh ra và lớn lên ở Hà Nội; quê gốc làng Lương Ngọc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
- Thể loại: tùy bút, bút kí, hồi kí, tiểu thuyết, truyện ngắn, biên khảo.
- Tác phẩm nổi bật: Cai, Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam, Bốn mươi năm nói láo, Thương nhớ mười hai.
- Giải thưởng: được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.
Vũ Bằng lớn lên trong một gia đình Nho học, học trường Albert Sarraut ở Hà Nội. Ông đến với nghề viết rất sớm: tập văn trào phúng Lọ văn ra đời năm 1931. Trước Cách mạng, ông vừa viết văn vừa làm báo, từng làm thư ký tòa soạn tờ Tiểu thuyết thứ Bảy, cộng tác với nhiều tờ báo ở Hà Nội. Năm 1935, ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Quỳ – người vợ về sau trở thành nỗi nhớ khôn nguôi trong nhiều trang văn của ông.
Cuối năm 1946, ông cùng gia đình tản cư ra vùng kháng chiến; cuối năm 1948 trở về Hà Nội và tham gia mạng lưới tình báo cách mạng. Năm 1954, ông được phân công vào Sài Gòn hoạt động, để lại vợ con ở Hà Nội, và ở đó cho đến năm 1975. Dưới vỏ bọc một nhà văn “bỏ” cách mạng, ông phải chịu sự lạnh nhạt, hiểu lầm của nhiều bạn văn. Ông mất ngày 7/4/1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 3/2000, Cục Chính trị thuộc Tổng cục 2 – Bộ Quốc phòng xác nhận ông là chiến sĩ quân báo; năm 2007, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Xem tiểu sử tác giả Vũ Bằng – cuộc đời, sự nghiệp, phong cách và nhận định.
Vũ Bằng có những tác phẩm nào?
Vũ Bằng để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ. Danh mục dưới đây tổng hợp theo Wikipedia tiếng Việt (năm trong ngoặc là năm xuất bản):

Tiểu thuyết
- Một mình trong đêm tối (1937)
- Truyện hai người (1940), Tội ác và hối hận (1940)
- Chớp bể mưa nguồn (1941), Để cho chàng khỏi khổ (1941)
- Bèo nước (1944)
- Mộc hoa vương (1953)
- Bóng ma nhà mệ Hoát (1973), Nước mắt người tình (1973)
Truyện ngắn, truyện thiếu nhi
- Quých và Quác (truyện thiếu nhi, 1941)
- Ba truyện mổ bụng (1941)
- Mê chữ (1970)
- Người làm mả vợ (truyện kí, 1973)
Tùy bút, bút kí
- Miếng ngon Hà Nội (1960)
- Miếng lạ miền Nam (1969)
- Thương nhớ mười hai (1972)
Hồi kí, biên khảo, văn trào phúng
- Lọ văn (văn trào phúng, 1931)
- Cai (hồi kí, 1944)
- Bốn mươi năm nói láo (hồi kí, 1969)
- Khảo về tiểu thuyết (biên khảo, 1969)
- Nhà văn lắm chuyện (1971), Những cây cười tiền chiến (1971)
Những tác phẩm tiêu biểu của Vũ Bằng
Dưới đây là những tác phẩm tiêu biểu của Vũ Bằng, trong đó có ba văn bản đang được học trong chương trình Ngữ văn 2018.
1/ Thương nhớ mười hai (1972)
Thương nhớ mười hai là tập tùy bút nổi tiếng nhất của Vũ Bằng. Ông viết cuốn sách trong hơn mười năm, từ tháng Giêng năm 1960 đến cuối năm 1971, tại một căn nhà nhỏ ở Sài Gòn, khi đất nước còn chia cắt và ông không biết đến bao giờ mới được trở về Hà Nội, gặp lại vợ con.
Cuốn sách lần lượt đi qua mười hai tháng trong năm. Mỗi tháng là một miền kí ức về thiên nhiên, phong tục, món ăn và con người Hà Nội, miền Bắc, xen lẫn nỗi nhớ da diết người vợ ở quê nhà. Có thể thấy, nỗi nhớ ở đây không chỉ là tình cảm riêng mà còn là tình yêu quê hương, đất nước của một người con xa xứ.
Về nghệ thuật, Thương nhớ mười hai được nhiều người đánh giá cao ở thứ tiếng Việt trong trẻo, giàu nhạc điệu, cùng lối liệt kê, trùng điệp tạo nên nhịp văn dạt dào cảm xúc.
2/ Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt

Văn bản trích từ phần viết về tháng Giêng trong Thương nhớ mười hai, học trong Ngữ văn 7 Kết nối tri thức. Tác giả nhớ lại tháng Giêng ở miền Bắc với mưa riêu riêu, gió lành lạnh, không khí sum họp gia đình và cái “rét ngọt” rất riêng của đất trời đầu xuân. Câu văn nổi tiếng trong đoạn này cho thấy tình yêu mùa xuân là điều tự nhiên, không ai ngăn được:
Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân.
Chuỗi điệp ngữ “ai bảo được… ai cấm được…” dồn dập như một lời khẳng định: yêu mùa xuân cũng tự nhiên như non yêu nước, như mẹ yêu con. Đoạn văn này từng được học trong sách giáo khoa cũ với nhan đề Mùa xuân của tôi.
Đọc thêm: Soạn bài Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt (Vũ Bằng).
3/ Thương nhớ mùa xuân
Thương nhớ mùa xuân cũng là văn bản trích từ Thương nhớ mười hai, được chọn vào Ngữ văn 11 Cánh diều (bài Tùy bút, tản văn, truyện kí). Văn bản ghi lại khung cảnh mùa xuân tháng Giêng ở Hà Nội một cách chân thực và đẹp đẽ; qua cảnh sắc thiên nhiên và sinh hoạt của con người, tác giả bộc lộ nỗi nhớ khắc khoải về Hà Nội.
Việc cùng một tác phẩm có mặt ở cả lớp 7 và lớp 11 cho thấy Thương nhớ mười hai là mẫu mực của thể tùy bút: lớp 7 học để cảm nhận vẻ đẹp mùa xuân, lớp 11 học để nhận diện đặc trưng thể loại – cái “tôi” trữ tình của người viết và chất trữ tình thấm trong từng chi tiết đời thường.
4/ Miếng ngon Hà Nội (1960) và bài Cốm Vòng

Miếng ngon Hà Nội là tập bút kí được Vũ Bằng viết ở Hà Nội vào mùa thu năm 1952, sau đó sửa chữa, viết thêm ở Sài Gòn các năm 1956, 1958, 1959. Sách gồm 17 chương, giới thiệu 15 món ngon đặc trưng của Hà Nội như phở, bánh cuốn, bánh đúc, chả cá… Qua từng món ăn, nhà văn gửi gắm kí ức và tình yêu với mảnh đất nơi mình sinh ra.
Bài Cốm Vòng trích từ tập bút kí này, được học trong Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo. Tác giả không chỉ tả hương vị cốm mà còn kể về làng Vòng, về công phu làm cốm và cách thưởng thức thứ quà thanh tao ấy như một nét văn hóa của người Hà Nội. Ngòi bút tinh tế, giàu cảm xúc khiến món quà quê trở thành một “báu vật” của kí ức.
Đọc thêm: Cốm Vòng (Vũ Bằng): thông tin tác giả, khái quát tác phẩm và Soạn bài Cốm Vòng – Chân trời sáng tạo lớp 7.
5/ Miếng lạ miền Nam (1969)
Nếu Miếng ngon Hà Nội là nỗi nhớ quê nhà thì Miếng lạ miền Nam là lời cảm ơn mảnh đất phương Nam đã cưu mang ông trong những năm xa cách. Tập bút kí viết về những món ăn lạ của miền Nam – có món lạ đến mức người phương Bắc khó hình dung.
Theo lời tác giả, chính những cái lạ ấy giúp ông hiểu rõ hơn tính cách chân thành, bộc trực, giản dị của người miền Nam. Đặt bên nhau, hai tập bút kí về ẩm thực cho thấy một Vũ Bằng sành ăn, tinh tế và luôn nhìn món ăn như tấm gương phản chiếu văn hóa, con người.
6/ Bốn mươi năm nói láo (1969)
Bốn mươi năm nói láo là hồi kí về cuộc đời làm báo của Vũ Bằng, xuất bản năm 1969. Cái tên nghe như đùa là cách ông tự trào về nghề báo – nghề mà ông gắn bó suốt bốn mươi năm.
Cuốn sách không chỉ kể lại những thăng trầm nghề nghiệp của tác giả mà còn tái hiện không khí làng văn, làng báo Việt Nam qua nhiều thời kì, với chân dung nhiều bạn văn, bạn báo. Những kỉ niệm với các nhà văn cùng thời cũng xuất hiện trong nhiều trang viết khác của ông, chẳng hạn những trang Vũ Bằng viết về Thạch Lam năm 1971 tại Sài Gòn.
7/ Cai (1944)
Cai là tập hồi kí đăng báo từ năm 1940 và in thành sách năm 1944, kể lại chính quá trình nghiện rồi cai thuốc phiện của tác giả. Bằng lối tả tâm lí sắc nét, những trang nhật kí chân thực, Vũ Bằng nhìn thẳng vào sai lầm của mình và kể lại hành trình vượt qua nó bằng ý chí, cùng sự chăm sóc, động viên của người vợ.
Đây là một tác phẩm hiếm hoi trong văn học trước 1945 mà người viết dám tự phơi bày góc khuất của bản thân, cho thấy sự thành thật – một phẩm chất xuyên suốt trong các hồi kí của Vũ Bằng.
Tác phẩm của Vũ Bằng trong sách giáo khoa Ngữ văn
| Văn bản | Lớp – bộ sách | Bài học |
|---|---|---|
| Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt (trích Thương nhớ mười hai) | Ngữ văn 7 Kết nối tri thức, tập 1 | Bài 5: Màu sắc trăm miền |
| Cốm Vòng (trích Miếng ngon Hà Nội) | Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo, tập 1 | Bài 4: Quà tặng của thiên nhiên |
| Thương nhớ mùa xuân (trích Thương nhớ mười hai) | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 2 | Bài 7: Tùy bút, tản văn, truyện kí |
Bài soạn và bài tìm hiểu tác phẩm tương ứng trên Văn VN đã được dẫn ở mục 2 và mục 4 phía trên.
Phong cách sáng tác của Vũ Bằng
- Nỗi nhớ làm nên văn chương: những tác phẩm hay nhất của ông đều viết trong xa cách, khi Hà Nội chỉ còn trong kí ức.
- Tài quan sát tinh tế: từ hương cốm, vị phở đến cái rét ngọt đầu xuân đều được cảm nhận bằng mọi giác quan.
- Ngôn ngữ giàu nhạc điệu: câu văn dài, nhiều điệp ngữ, liệt kê, tạo nhịp điệu tha thiết như lời tâm sự.
- Cái tôi thành thật: trong hồi kí, ông không ngại kể cả những góc khuất của bản thân.
Nhà văn Hoàng Quốc Hải từng nhận xét Vũ Bằng là “một nhà báo có bản lĩnh, đồng thời là một nhà văn hiện thực trữ tình” (theo báo Nhân Dân).
Lời kết
Đọc tác phẩm Vũ Bằng là đọc một tình yêu Hà Nội được chưng cất qua bao năm xa cách. Từ hương cốm làng Vòng đến tháng Giêng “rét ngọt”, những trang văn của ông vẫn giữ được sức gợi lạ lùng, nhắc người đọc hôm nay biết trân trọng từng món quà quê, từng mùa trong năm.
Xem thêm: Trọn bộ thơ Nguyễn Tuân hay nhất · Tổng hợp những tác phẩm tiêu biểu của Tô Hoài · 20 bài thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường hay nhất
Xem thêm: tác phẩm Bảo Ninh, tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư, tác phẩm Đoàn Giỏi.
Xem thêm: