Tác phẩm Bảo Ninh không nhiều về số lượng nhưng có sức nặng hiếm thấy trong văn xuôi Việt Nam sau Đổi mới. Người lính trở về từ mặt trận B3 – Tây Nguyên ấy đã viết về chiến tranh bằng nỗi đau, sự ám ảnh và lòng trắc ẩn với thân phận con người, để lại một cuốn tiểu thuyết được dịch ra nhiều thứ tiếng cùng những truyện ngắn lặng lẽ mà day dứt. Hãy cùng Văn VN điểm qua các tác phẩm tiêu biểu của nhà văn.
Đôi nét về nhà văn Bảo Ninh
Bảo Ninh là một nhà văn thuộc thế hệ trực tiếp cầm súng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tên tuổi ông gắn liền với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh – tác phẩm được xem là một trong những tiểu thuyết Việt Nam gây tiếng vang nhất ở nước ngoài.

- Tên thật: Hoàng Ấu Phương.
- Bút danh: Bảo Ninh – trùng với tên quê gốc của ông.
- Năm sinh: 1952, sinh tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Quê quán: xã Bảo Ninh, tỉnh Quảng Bình (cũ).
- Gia đình: con trai Giáo sư ngôn ngữ học Hoàng Tuệ, nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học.
- Sự nghiệp: nhập ngũ năm 1969, chiến đấu ở mặt trận B3 – Tây Nguyên; sau chiến tranh học Đại học Tổng hợp Hà Nội (1976–1981), học Trường Viết văn Nguyễn Du (1984–1986); từng làm việc tại Viện Khoa học Việt Nam và báo Văn nghệ Trẻ.
- Giải thưởng: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1991) cho Nỗi buồn chiến tranh; Independent Foreign Fiction Prize của Anh (1994) cho bản dịch The Sorrow of War; Giải thưởng châu Á Nikkei (Nhật Bản, 2011) ở lĩnh vực văn hóa; Giải thưởng Văn học Sim Hun (Hàn Quốc, 2016); Giải thưởng Văn học châu Á tại Hàn Quốc (2018).
Năm 1969, khi mới 17 tuổi, Hoàng Ấu Phương nhập ngũ và chiến đấu nhiều năm ở chiến trường Tây Nguyên. Những năm tháng ấy, cùng những mất mát của đồng đội, trở thành chất liệu ám ảnh suốt đời văn của ông. Giải ngũ năm 1975, ông học đại học, rồi theo học Trường Viết văn Nguyễn Du và in tập truyện đầu tiên vào năm 1987.
Bảo Ninh vốn kín tiếng, ít xuất hiện trước công chúng và hiếm khi trả lời phỏng vấn. Ông viết không nhiều, nhưng mỗi trang văn đều mang dấu ấn riêng: giọng kể trầm buồn, lối viết đan xen hồi ức và hiện tại, cái nhìn nhân bản về con người trong và sau chiến tranh.
Xem tiểu sử tác giả Bảo Ninh – cuộc đời, sự nghiệp, phong cách và nhận định.
Bảo Ninh có những tác phẩm nào?
Sự nghiệp của Bảo Ninh gồm một tiểu thuyết và nhiều truyện ngắn. Dưới đây là những tác phẩm của Bảo Ninh được nhắc đến nhiều nhất:
Tiểu thuyết
- Nỗi buồn chiến tranh (viết năm 1987; in lần đầu với nhan đề Thân phận của tình yêu, năm 1990 theo nhiều tư liệu, SGK Ngữ văn 12 Cánh diều ghi năm 1987)
Tập truyện
- Trại bảy chú lùn (1987)
- Chuyện xưa kết đi, được chưa? (2009)
- Bảo Ninh – Những truyện ngắn (Nhà xuất bản Trẻ)
Một số truyện ngắn tiêu biểu
- Giang
- Bí ẩn của làn nước
- Hà Nội lúc không giờ
- Lan man trong lúc kẹt xe
- Khắc dấu mạn thuyền

Trong đó, Nỗi buồn chiến tranh là tác phẩm đã được dịch và giới thiệu ở nhiều nước; bản tiếng Anh The Sorrow of War ra đời năm 1993 với phần chuyển ngữ của Phan Thanh Hảo, Frank Palmos và Võ Thị Băng Thanh.
Những tác phẩm tiêu biểu của Bảo Ninh
Dù viết về chiến tranh hay đời sống thời bình, Bảo Ninh luôn đặt con người với những vết thương tinh thần vào trung tâm trang viết. Dưới đây là các tác phẩm nên đọc.
1/ Nỗi buồn chiến tranh (1990)
Cuốn tiểu thuyết được Bảo Ninh viết năm 1987. Theo nhiều tư liệu, sách in lần đầu năm 1990 tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn với nhan đề Thân phận của tình yêu; SGK Ngữ văn 12 Cánh diều ghi tác phẩm xuất bản lần đầu năm 1987 với nhan đề này. Sau đó sách được in lại với tên gốc Nỗi buồn chiến tranh. Tác phẩm nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991; bản tiếng Anh nhận giải Independent Foreign Fiction Prize năm 1994.

Nhân vật trung tâm là Kiên, một cựu chiến binh sống sót sau những năm tháng chiến đấu ở Tây Nguyên. Sau chiến tranh, anh tham gia đội quy tập hài cốt liệt sĩ, rồi trở về Hà Nội và cầm bút viết tiểu thuyết như một cách sống lại cùng những đồng đội đã ngã xuống. Song song là mối tình với Phương – người con gái Kiên yêu từ thuở học trò – một tình yêu bị chiến tranh làm tổn thương và đổ vỡ.
Tiểu thuyết không kể theo trình tự thời gian mà đan xen quá khứ và hiện tại, chiến trường và thời bình, giấc mơ và thực tại. Lối viết theo dòng ý thức, những đoạn hồi tưởng ngắt quãng và câu văn dài, ngân nga tạo nên một thế giới nghệ thuật đầy ám ảnh. Có thể thấy, điều làm nên sức sống của tác phẩm là cách nhà văn nhìn chiến tranh từ số phận cá nhân: nỗi buồn ở đây là nỗi đau của con người trước mất mát, chứ không phải sự phủ nhận những hi sinh.
Đoạn trích Nỗi buồn chiến tranh hiện được học trong Ngữ văn 12 bộ Kết nối tri thức (bài “Khả năng lớn lao của tiểu thuyết”).
Đọc thêm: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) lớp 12 – Kết nối tri thức và Mẫu phân tích Nỗi buồn chiến tranh và các nhân vật
2/ Ánh sáng cứu rỗi (trích Nỗi buồn chiến tranh)
Ánh sáng cứu rỗi là một đoạn trích khác từ Nỗi buồn chiến tranh, được chọn vào Ngữ văn 12 bộ Cánh diều (bài Tiểu thuyết hiện đại). Đoạn trích tập trung vào đời sống nội tâm của Kiên – người lính mang trong mình những chấn thương tinh thần nặng nề sau cuộc chiến.
Bằng thủ pháp đồng hiện và bút pháp “dòng ý thức”, nhà văn để quá khứ và hiện tại chồng lên nhau trong tâm trí nhân vật. “Ánh sáng” ở đây có thể hiểu là những gì còn trong trẻo, nhân hậu trong tâm hồn con người – thứ ánh sáng giúp người lính vượt qua bóng tối của kí ức chiến tranh. Đây là văn bản tiêu biểu để học sinh tìm hiểu đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại: điểm nhìn bên trong, kết cấu phi tuyến tính và ngôn ngữ giàu chất suy tưởng.
3/ Giang
Giang là truyện ngắn in trong tập Bảo Ninh – Những truyện ngắn, được chọn vào Ngữ văn 10 bộ Chân trời sáng tạo (bài “Đất nước và con người”). Truyện được kể ở ngôi thứ nhất, qua lời một người lính trẻ nhớ lại cuộc gặp gỡ tình cờ mà nhiều cảm xúc với cô gái tên Giang và người cha của cô trong những năm kháng chiến.
Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi ấy về sau gắn với một lần tái ngộ trên chiến trường và những mất mát không thể bù đắp. Với giọng văn nhẹ nhàng, tự nhiên, Bảo Ninh làm hiện lên tình người ấm áp giữa thời chiến, đồng thời gợi nỗi day dứt về những con người đã đi qua cuộc đời người lính rồi mãi mãi không trở lại.
4/ Bí ẩn của làn nước
Bí ẩn của làn nước là truyện ngắn trích từ tập Những truyện ngắn (Nhà xuất bản Trẻ), học trong Ngữ văn 9 bộ Kết nối tri thức (bài “Đối diện với nỗi đau”). Người kể chuyện xưng “tôi” nhớ lại trận lũ dữ năm nào, khi dòng nước cuốn trôi người thân của mình.
Trong cơn hỗn loạn, “tôi” cứu được một đứa bé, rồi nhận ra đó không phải con mình. Từ đó, bí mật ấy được giữ kín suốt nhiều năm, chỉ có dòng sông biết. Truyện gợi ra nỗi đau mất mát và cách con người lặng lẽ đối diện với nó, đồng thời cho thấy lòng nhân hậu, sự bao dung vượt lên bi kịch cá nhân.
5/ Trại bảy chú lùn (1987)
Trại bảy chú lùn là tập truyện ngắn in năm 1987, xuất hiện trước Nỗi buồn chiến tranh. Đây là giai đoạn Bảo Ninh vừa hoàn thành khóa học ở Trường Viết văn Nguyễn Du và bắt đầu định hình giọng văn của mình.
Tập truyện cho thấy những dấu hiệu đầu tiên của một cây bút chuyên chú vào đời sống tinh thần của người lính và những người trẻ thời hậu chiến – mạch cảm hứng sẽ đạt tới độ chín trong cuốn tiểu thuyết ra đời ngay sau đó.
Tác phẩm của Bảo Ninh trong sách giáo khoa Ngữ văn
Theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018, tác phẩm Bảo Ninh xuất hiện ở ba khối lớp:
| Văn bản | Lớp | Bộ sách | Bài học |
|---|---|---|---|
| Bí ẩn của làn nước | 9 (tập 1) | Kết nối tri thức | Bài 5 – Đối diện với nỗi đau |
| Giang | 10 (tập 2) | Chân trời sáng tạo | Bài 8 – Đất nước và con người (Truyện) |
| Nỗi buồn chiến tranh (trích) | 12 (tập 1) | Kết nối tri thức | Bài 1 – Khả năng lớn lao của tiểu thuyết |
| Ánh sáng cứu rỗi (trích Nỗi buồn chiến tranh) | 12 (tập 2) | Cánh diều | Bài 7 – Tiểu thuyết hiện đại |
Khi học các văn bản của Bảo Ninh, học sinh cần chú ý điểm nhìn của người kể chuyện, cách đan xen thời gian và những chi tiết thể hiện đời sống nội tâm nhân vật.
Phong cách sáng tác của Bảo Ninh
Có thể thấy, văn Bảo Ninh là tiếng nói của người trong cuộc: ông viết về chiến tranh từ kí ức và thân phận cá nhân, không từ những sự kiện lớn. Một số đặc điểm dễ nhận thấy:
- Cảm hứng bi kịch và nhân đạo: chú ý đến mất mát, chấn thương tinh thần và phẩm giá con người.
- Kết cấu phi tuyến tính: đồng hiện quá khứ – hiện tại, hồi ức ngắt quãng, giấc mơ đan vào thực tại.
- Ngôn ngữ: câu văn dài, nhiều lặp lại, giàu nhạc điệu; giọng kể trầm buồn, suy tư.
- Hình tượng người lính: vừa dũng cảm vừa cô đơn, mang theo những vết thương vô hình sau cuộc chiến.
Chính cách tiếp cận ấy khiến tác phẩm của ông được đánh giá là một trong những thành tựu nổi bật của văn xuôi Việt Nam thời kì Đổi mới.
Lời kết
Tác phẩm Bảo Ninh giúp người đọc hôm nay hiểu rằng đằng sau chiến thắng là biết bao hi sinh, mất mát và những nỗi đau âm thầm. Từ Nỗi buồn chiến tranh đến Giang, Bí ẩn của làn nước, trang văn của ông luôn hướng về con người với niềm trắc ẩn sâu sắc, nhắc chúng ta trân trọng hòa bình.
Xem thêm: Tuyển tập các tác phẩm Nguyễn Minh Châu hay nhất · Trọn bộ các tác phẩm Hữu Thỉnh · Những tác phẩm Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc)
Xem thêm: tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư, tác phẩm Đoàn Giỏi, tác phẩm Nguyễn Huy Tưởng.