Mùa xuân của tôi là đoạn trích tùy bút của Vũ Bằng, học ở Bài 15 sách Ngữ văn 7 tập một chương trình cũ, nổi tiếng với những dòng thương nhớ mùa xuân Hà Nội. Bài viết tổng hợp nội dung, tiểu sử tác giả, xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy. Các bài học khác của khối 7 có tại chuyên mục Ngữ văn lớp 7.

Nội dung đoạn trích Mùa xuân của tôi
Mở đầu, tác giả khẳng định yêu mùa xuân là lẽ tự nhiên của con người, như non thương nước, bướm thương hoa. Rồi ông nhớ về mùa xuân Hà Nội và miền Bắc: mưa bụi riêu riêu, gió lành lạnh, cái rét ngọt; tiếng trống chèo từ thôn xa, câu hát huê tình; không khí sum vầy của gia đình trong những ngày Tết, khi sức sống trong trời đất và con người như căng đầy.
Phần cuối, ông tả những ngày sau rằm tháng Giêng: đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn tươi, cỏ thôi xanh mướt mà lại thơm hơn, mưa xuân thay cho mưa phùn, trời hửng những vệt sáng hồng; mọi người trở về với nếp sinh hoạt thường ngày nhưng vẫn còn vương vấn hương vị Tết. Tất cả được viết ra từ nỗi nhớ quê khôn nguôi của một người con xa đất Bắc.
Văn bản còn được bảo hộ bản quyền; bài chỉ trích vài cụm ngắn để minh họa, lời giải câu hỏi xem ở bài soạn.
Thông tin tác giả Vũ Bằng
Vũ Bằng (1913 – 1984), tên thật Vũ Đăng Bằng, sinh và lớn lên ở Hà Nội. Ông cầm bút từ thập niên 1930, song song viết văn và làm báo, giỏi nhất ở thể tùy bút, bút kí. Năm 1954, ông vào miền Nam, tiếp tục viết văn, làm báo; về sau, những đóng góp của ông trong hoạt động tình báo cách mạng mới được công nhận.
Tác phẩm tiêu biểu: Cai, Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam, Bốn mươi năm nói láo, Thương nhớ mười hai. Văn Vũ Bằng tài hoa, tinh tế, giàu cảm xúc, đặc biệt khi viết về phong vị Hà Nội và nỗi nhớ quê hương. Năm 2007, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Xem thêm: Tác giả Vũ Bằng: cuộc đời và sự nghiệp, Những tác phẩm tiêu biểu của Vũ Bằng.
Thông tin tác phẩm Mùa xuân của tôi
Dưới đây là những câu hỏi thường gặp khi ôn văn bản.
Mùa xuân của tôi trích từ đâu?
Văn bản trích từ bài tùy bút Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt trong tập Thương nhớ mười hai. Tập tùy bút được viết trong khoảng 1960 – 1971 và in năm 1972; mỗi bài ứng với một tháng trong năm, mỗi tháng là một nỗi nhớ về Hà Nội.
Hoàn cảnh sáng tác
Tác giả viết khi sống ở Sài Gòn, lúc đất nước bị chia cắt, cách xa quê hương, gia đình ở miền Bắc. Vì vậy, mùa xuân trong bài là mùa xuân của kí ức và nỗi nhớ.
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: tùy bút.
- Phương thức biểu đạt: biểu cảm là chính, kết hợp miêu tả.
Bố cục Mùa xuân của tôi có mấy phần?
- Phần 1 (từ đầu đến “mê luyến mùa xuân”): yêu mùa xuân là lẽ tự nhiên ở mỗi người.
- Phần 2 (tiếp theo đến “mở hội liên hoan”): cảnh sắc, không khí mùa xuân đất Bắc.
- Phần 3 (còn lại): mùa xuân sau ngày rằm tháng Giêng.
Giá trị nội dung
- Tái hiện trời đất và không khí ngày xuân Hà Nội, miền Bắc qua nỗi nhớ của người xa quê.
- Bộc lộ tình quê, tình nhà và lòng yêu đời tha thiết.
- Cho thấy một tâm hồn tinh tường, giàu rung động và gắn bó máu thịt với Hà Nội.
Giá trị nghệ thuật
- Mạch văn trôi theo cảm xúc, cuốn người đọc theo.
- Lời văn giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu; nhiều phép so sánh, liên tưởng bất ngờ.
- Giọng văn tha thiết, có lúc reo vui, có lúc bồi hồi, đậm chất thơ.
Ý nghĩa nhan đề
“Mùa xuân của tôi” không chỉ là mùa xuân nói chung mà là mùa xuân riêng trong kí ức của tác giả: mùa xuân Hà Nội gắn với gia đình, quê hương, mà ông đang nhớ thương khi ở xa. Chữ “của tôi” vì vậy chứa đầy tình cảm riêng tư, thiết tha.
Sơ đồ tư duy Mùa xuân của tôi
Sơ đồ dưới đây giúp em hệ thống nhanh các ý chính.

Ghi nhớ nhanh khi làm bài đọc hiểu
Nếu gặp đoạn trích trong đề đọc hiểu, em nên nhớ ba ý: tác giả viết trong hoàn cảnh xa quê nên mùa xuân hiện lên qua kí ức; các chi tiết đặc trưng của xuân đất Bắc gồm mưa bụi, rét ngọt, trống chèo, không khí sum họp gia đình; và nét riêng của tháng Giêng sau rằm được tả bằng những thay đổi rất nhỏ của hoa đào, cỏ cây, cơn mưa. Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp miêu tả.
Lời kết
Mùa xuân của tôi là trang tùy bút giàu chất thơ về mùa xuân đất Bắc. Khi ôn, em cần nhớ xuất xứ từ Thương nhớ mười hai, hoàn cảnh viết trong nỗi nhớ quê, bố cục ba phần và những nét đặc sắc trong cảm nhận, ngôn ngữ của Vũ Bằng.
Xem thêm: