Phân tích Hai chữ nước nhà là đề bài quen thuộc khi học Bài 8 “Những cung bậc tình cảm” trong Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo. Bài thơ song thất lục bát của Á Nam Trần Tuấn Khải mượn lời Nguyễn Phi Khanh dặn con nơi biên ải để nói nỗi đau mất nước và khích lệ lòng yêu nước của đồng bào đầu thế kỉ XX. Cùng bài học còn có Tì bà hành của Bạch Cư Dị, đọc qua bản dịch song thất lục bát, với soạn bài Tì bà hành Chân trời sáng tạo.
Dưới đây là dàn ý chi tiết và 5 bài văn mẫu phân tích đoạn trích trong SGK (dòng 29 đến dòng 64) với độ dài, góc nhìn khác nhau: ngắn gọn, đầy đủ, học sinh giỏi, phân tích lời trao gửi và phân tích nghệ thuật song thất lục bát. Bài thơ còn trong thời hạn bảo hộ quyền tác giả nên các bài mẫu chỉ trích những dòng tiêu biểu.
Cuối học kì, em có thể hệ thống lại kiến thức của bài học này cùng các bài học khác qua bài ôn tập học kì II Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo.
Dàn ý phân tích Hai chữ nước nhà
Dàn ý dưới đây bám theo bố cục ba phần của đoạn trích, em có thể mở rộng hoặc rút gọn tùy yêu cầu đề bài.

1. Mở bài
– Giới thiệu Trần Tuấn Khải (Á Nam), nhà thơ yêu nước đầu thế kỉ XX, sở trường thể thơ dân tộc.
– Giới thiệu bài thơ Hai chữ nước nhà (mở đầu tập Bút quan hoài I, 1924) và đoạn trích: lời người cha trao gửi sự nghiệp cứu nước cho con.
2. Thân bài
a. Khái quát
+ Đề tài mượn từ lịch sử: Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt, khuyên Nguyễn Trãi quay về lo trả thù nhà, đền nợ nước.
+ Ý nghĩa của việc mượn chuyện xưa: kín đáo trước sự kiểm duyệt của thực dân, lại có sức gợi lớn với người đương thời.
b. Nỗi đau và lời gửi gắm của người cha (dòng 29–32)
+ Cảnh ngộ: “tuổi già sức yếu”, “sa cơ”, “bó tay”; hình ảnh “Thân lươn bao quản vũng lầy” cho thấy người cha không tiếc thân nhưng bất lực.
+ Lời trao gửi: “Giang san gánh vác sau này cậy con” ⇒ niềm tin tuyệt đối, trọng trách lớn lao đặt lên vai người con.
c. Truyền thống lịch sử và nỗi đau hiện tại (dòng 33–48)
+ Nhắc tổ tiên “vì nước gian lao”, ngọn cờ độc lập nhuộm máu đào.
+ Tấm gương Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, chiến thắng Bạch Đằng; điệp từ “Kìa” như chỉ tận tay cho con thấy.
+ Đối lập: “Giang san này vẫn giang san” mà nay “sẻ nghé tan đàn” ⇒ niềm tự hào xen nỗi đau, câu hỏi day dứt về trách nhiệm.
d. Lời căn dặn về bổn phận và lẽ sống (dòng 49–64)
+ Con là “một người trong nước”, phải nhớ chữ “Gia, Quốc”, chí làm trai “hồ thỉ bốn phương”, không thẹn với “gương Lạc Hồng”.
+ Coi nhẹ vinh hoa, phải thương giống nòi, không tham phú quý.
+ Phép đối nhục – vinh: “Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục”, “Thân tự do, chiên chúc mà vinh”.
+ Lời gọi cuối “Con ơi! Nhớ đức sinh thành” ⇒ chữ hiếu gắn với nghĩa vụ với đất nước.
e. Nghệ thuật
+ Thể song thất lục bát: vần trắc ở cặp câu thất dồn nén, cặp lục bát tha thiết; nhịp 3/4 nghẹn ngào.
+ Giọng thống thiết; điển tích, hình ảnh ước lệ; điệp ngữ, phép đối, câu hỏi tu từ, lời gọi.
⇒ Lời khuyên vừa có lí vừa có tình, giàu sức lay động.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị: tiếng nói yêu nước thiết tha, bài học về trách nhiệm công dân.
– Liên hệ bản thân: sống có trách nhiệm, xứng đáng với truyền thống cha ông.
Phân tích Hai chữ nước nhà – mẫu 1 (ngắn gọn)
Trần Tuấn Khải là một trong những nhà thơ yêu nước tiêu biểu của những năm 1920, người đã khéo léo mượn chuyện xưa để nói nỗi lòng thời mình. Bài thơ Hai chữ nước nhà mượn lời Nguyễn Phi Khanh dặn con Nguyễn Trãi nơi biên ải, và đoạn trích trong sách là phần lời trao gửi thấm thía nhất của người cha.
Mở đầu đoạn trích, người cha tự nói về thân phận mình: tuổi già, sức yếu, “Lỡ sa cơ đành chịu bó tay”. Ông ví mình như con lươn không quản vũng lầy, nghĩa là sẵn sàng chịu mọi đày đọa, nhưng đã không còn khả năng cứu nước. Vì thế, tất cả niềm tin dồn vào đứa con: “Giang san gánh vác sau này cậy con”. Chữ “cậy” nặng trĩu, vừa là trông cậy, vừa là giao phó, khiến người con không thể từ chối.
Để lời trao gửi có sức nặng, người cha nhắc lại lịch sử. Ông chỉ cho con thấy Hai Bà Trưng phận nữ nhi mà vẫn “ra tay buồm lái”, thấy Hưng Đạo “Vì giống nòi huyết chiến bao phen” với chiến thắng Bạch Đằng lừng lẫy. Quá khứ vẻ vang ấy càng làm hiện tại thêm nhục nhã: non sông vẫn thế mà con dân đã tan tác như “sẻ nghé tan đàn”. Câu hỏi “vì ai?” như một lời trách, lời thức tỉnh.
Phần cuối là những lời dặn về lẽ sống. Người con phải nhớ mình là “một người trong nước”, phải lo cả nhà lẫn nước, phải có chí làm trai, không được ham vinh hoa, phú quý. Hai câu đối “Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục, / Thân tự do, chiên chúc mà vinh” nói rõ ranh giới giữa nhục và vinh: giàu sang mà làm tôi tớ thì nhục, nghèo khó mà tự do thì vinh. Lời gọi “Con ơi! Nhớ đức sinh thành” khép lại đoạn thơ, biến bổn phận với nước thành cách báo hiếu cao nhất.
Bằng thể song thất lục bát giàu nhạc điệu và giọng thơ thống thiết, Hai chữ nước nhà đã chạm đến trái tim người đọc. Đến hôm nay, bài thơ vẫn nhắc chúng ta rằng tình yêu đất nước phải được thể hiện bằng trách nhiệm và hành động cụ thể.
Phân tích Hai chữ nước nhà – mẫu 2 (đầy đủ)
Có những bài thơ ra đời để làm nhiệm vụ của một lời hiệu triệu. Hai chữ nước nhà của Á Nam Trần Tuấn Khải, bài thơ mở đầu tập Bút quan hoài I (1924), là một bài thơ như thế. Sống giữa những năm đất nước chìm trong ách thực dân, nhà thơ không thể nói thẳng điều mình muốn nói, bèn tìm về một cuộc chia li nổi tiếng trong lịch sử: Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt giải sang Trung Quốc, dặn con là Nguyễn Trãi quay về lo trả thù nhà, đền nợ nước. Đoạn trích trong SGK Ngữ văn 9 là phần lời dặn ấy, lời của một người cha nhưng cũng là tiếng lòng của cả một thế hệ yêu nước.
Khổ thơ đầu đoạn trích cho thấy cảnh ngộ và tâm trạng của người cha:
Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
Chữ “xót” mở đầu đã chứa đựng biết bao đau đớn. Người cha xót cho mình không phải vì sắp bị đày đi đất khách mà vì “tuổi già sức yếu”, vì “sa cơ” rơi vào tay giặc, không còn cách nào góp sức cho nước. Hình ảnh “thân lươn” và “vũng lầy” rất giản dị mà thấm thía: thân này có bị vùi dập cũng chẳng quản, chỉ tiếc một điều là đã bất lực. Từ nỗi đau ấy, ông trao lại cho con cả một “giang san”. Việc lớn của đất nước được gửi gắm trong một chữ “cậy” giản dị mà nặng nghìn cân. Lời trao gửi mang dáng dấp của lời trăng trối, bởi người cha biết chuyến đi này không hẹn ngày về.
Nhưng một người cha thấu hiểu con sẽ không chỉ giao việc. Ông muốn con hiểu vì sao phải gánh vác. Vì thế, ông lật lại những trang sử vàng của dân tộc. Tổ tiên ta “Đã từng phen vì nước gian lao”, ngọn cờ độc lập còn nhuộm máu đào của bao thế hệ. Rồi ông chỉ tận tay những tấm gương cụ thể:
Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
Hai Bà Trưng mang “phận liễu bồ”, thân gái yếu mềm, vậy mà dám cầm lái con thuyền đất nước giữa cuồng phong. Tiếp đến là Trần Hưng Đạo “Vì giống nòi huyết chiến bao phen”, là “Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên”. Hai tiếng “Kìa” lặp lại như cử chỉ của người cha chỉ về phía lịch sử, bảo con hãy nhìn cho rõ. Lịch sử ấy vừa là niềm tự hào, vừa là tấm gương, vừa là lời nhắc: nếu phụ nữ đời xưa còn làm được, thì người trai hôm nay có lí gì đứng ngoài?
Niềm tự hào lập tức chuyển thành nỗi đau khi người cha nhìn về hiện tại: “Giang san này vẫn giang san, / Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?”. Điệp từ “giang san” khẳng định non sông vẫn vẹn nguyên, vẫn là non sông của tổ tiên. Chỉ có con người là tan tác như bầy chim sẻ, đàn bê nghé mất mẹ. Câu hỏi “vì ai?” không cần câu trả lời, nó buộc người nghe tự vấn lương tâm.
Phần cuối đoạn trích là những lời căn dặn trực tiếp. Người cha nhắc con rằng con “cũng một người trong nước”, phải lo trọn cả hai chữ “Gia, Quốc”, phải có chí “hồ thỉ bốn phương” của kẻ làm trai để khỏi thẹn với “gương Lạc Hồng”. Ông dạy con coi nhẹ vinh hoa, bởi hào kiệt xưa kia hi sinh thân mình “cũng vì nước non”. Tuổi trẻ phải bước vào cuộc cạnh tranh không nhường ai, phải thương giống nòi, không để phú quý làm nguôi tấc lòng. Đặc biệt, hai câu thơ đối nhau như một chân lí:
Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
“Đỉnh chung” là cảnh giàu sang, “chiên chúc” là cảnh ăn cháo nghèo khổ. Giàu sang mà phải luồn cúi kẻ thù thì vẫn là nhục; nghèo khổ mà được tự do thì vẫn là vinh. Quan niệm ấy dứt khoát, rõ ràng, là lời cảnh tỉnh những kẻ vì bả vinh hoa mà làm tay sai cho giặc. Đoạn thơ kết lại bằng tiếng gọi “Con ơi! Nhớ đức sinh thành” và lời dặn sống sao cho khỏi “ô danh với đời”. Chữ hiếu ở đây đã được nâng lên: báo đáp cha mẹ chính là làm tròn nghĩa vụ với đất nước.
Thành công của đoạn trích gắn liền với thể song thất lục bát. Cặp câu bảy chữ với vần trắc và nhịp 3/4 tạo nên âm hưởng dồn dập, uất nghẹn; cặp lục bát tiếp theo lại ngân dài, tha thiết như lời ru, lời than. Sự luân phiên ấy rất hợp để diễn tả những lời vừa đau đớn vừa khuyên nhủ. Bên cạnh đó là hệ thống điển tích, hình ảnh ước lệ quen thuộc với người đọc đương thời, các phép điệp, phép đối, câu hỏi tu từ và giọng điệu thống thiết, lâm li.
Hai chữ nước nhà không chỉ là lời của Nguyễn Phi Khanh nói với Nguyễn Trãi mà còn là lời Trần Tuấn Khải nói với đồng bào mình. Đọc bài thơ hôm nay, ta vẫn nghe được lời nhắc giản dị mà sâu sắc: nước và nhà không tách rời, mỗi người phải biết sống cho xứng với non sông mà cha ông đã đổ máu giữ gìn.
Phân tích Hai chữ nước nhà – mẫu 3 (học sinh giỏi)
Văn học yêu nước Việt Nam đầu thế kỉ XX có một nét riêng: khi không thể nói thẳng, người cầm bút tìm về lịch sử. Phan Bội Châu viết Hải ngoại huyết thư bằng giọng thống thiết; Tản Đà gửi nỗi niềm vào non nước; còn Á Nam Trần Tuấn Khải dựng lại cuộc chia li của cha con Nguyễn Phi Khanh – Nguyễn Trãi trong Hai chữ nước nhà. Mượn một khoảnh khắc của thế kỉ XV, bài thơ nói trúng nỗi đau của thế kỉ XX. Đoạn trích trong SGK là phần lời trao gửi, nơi tình cha con và nghĩa nước non hòa làm một.
Điều đặc biệt đầu tiên là tư thế trữ tình của người cha. Ông không nói với con bằng giọng của vị quan, cũng không bằng giọng của anh hùng, mà bằng giọng của một người thua cuộc biết mình thua cuộc. “Cha xót phận tuổi già sức yếu” – câu thơ bắt đầu bằng sự tự nhận, không che giấu. Chính sự thành thật ấy khiến lời ông có sức nặng: người cha không đòi hỏi con làm điều mình đã làm được, mà giao cho con điều mình không thể làm. Hình ảnh “thân lươn” tự ví mang chút tự trào chua xót; “vũng lầy” là cảnh tù đày, cũng là cảnh ngộ của cả dân tộc lúc bấy giờ. Và giữa bao cay đắng, chỉ một dòng thơ ngắn đã đặt trọn “giang san” lên vai con. Có thể nói, khổ thơ này là cuộc chuyển giao giữa hai thế hệ, được thực hiện ở nơi biên ải, trong nước mắt.
Nếu khổ đầu là lời giao phó, thì các khổ tiếp theo là quá trình thuyết phục. Người cha hiểu rằng một trọng trách lớn cần được đặt trên một nền tảng tinh thần vững chắc, và không gì vững chắc hơn lịch sử. Ông nhắc đến “tổ tôn”, đến “Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây” – hình ảnh vừa hào hùng vừa bi tráng, bởi độc lập nào cũng phải trả bằng máu. Ông chọn hai tấm gương rất có dụng ý: Hai Bà Trưng là nữ nhi, Trần Hưng Đạo là bậc tướng tài. Một bên cho thấy lòng yêu nước không phân biệt nam nữ, một bên cho thấy tài thao lược làm nên chiến thắng. Đặt hai tấm gương cạnh nhau, người cha như muốn nói: đất nước này chưa bao giờ thiếu người anh hùng, vấn đề là con có dám trở thành một người trong số họ hay không.
Chỗ sâu sắc của đoạn thơ là niềm tự hào không dừng ở hoài niệm. Ngay sau những trang sử vàng, người cha đặt câu hỏi: “Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?”. Hình ảnh “sẻ nghé” gợi sự nhỏ bé, yếu ớt, tan tác, đối lập gay gắt với hình ảnh “Gươm reo chính khí, nước rền dư uy” của đời Trần. Sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại tạo nên một khoảng trống đau đớn, và câu hỏi “vì ai?” xoáy vào khoảng trống ấy. Người đọc những năm 1920 hẳn không khỏi giật mình, bởi câu hỏi ấy đâu chỉ dành cho Nguyễn Trãi.
Phần cuối đoạn trích chuyển sang giọng khuyên nhủ, dạy bảo, và ở đây quan niệm sống của người cha hiện ra rõ ràng. Ông đặt người con vào ba mối quan hệ: với đất nước (“một người trong nước”), với truyền thống (“gương Lạc Hồng”, “hào kiệt xưa kia”) và với cha mẹ (“đức sinh thành”). Ở cả ba mối quan hệ ấy, yêu cầu đều thống nhất: đặt nghĩa lớn lên trên lợi riêng. Câu thơ “Chữ vinh hoa sá kể làm chi!” gạt phăng mọi cám dỗ; lời dặn “Đừng tham phú quý” là lời cảnh báo trước một thực tế đương thời khi không ít người chấp nhận làm tay sai để được giàu sang. Đỉnh cao của hệ thống lí lẽ ấy là cặp câu đối “Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục, / Thân tự do, chiên chúc mà vinh”. Cấu trúc đối xứng tuyệt đối, từ ngữ Hán Việt trang trọng, khiến hai câu thơ có dáng dấp của một châm ngôn. Người cha không chỉ khuyên con đánh giặc, ông dạy con một thước đo giá trị: tự do quý hơn phú quý.
Lời trao gửi khép lại bằng tiếng gọi “Con ơi!”. Sau bao lí lẽ, người cha trở về với tình cha con giản dị. “Nhớ đức sinh thành” không phải để con ở lại bên cha, mà để con sống sao cho khỏi “ô danh với đời”. Như vậy, chữ hiếu truyền thống đã được Trần Tuấn Khải mở rộng: hiếu với cha mẹ gắn liền với trung với nước, thậm chí phải thực hiện bằng cách rời xa cha mẹ để lo việc nước. Đó là một quan niệm tiến bộ, rất cần thiết với thanh niên thời ấy.
Về nghệ thuật, Trần Tuấn Khải đã khai thác triệt để khả năng biểu cảm của thể song thất lục bát. Vần trắc gieo ở cặp câu thất (“yếu” – “chịu”, “trước” – “nước”) tạo độ nén, độ gắt; nhịp 3/4 như tiếng nấc; cặp lục bát tiếp theo thả dài, ngân nga. Nhờ thế, mỗi khổ thơ là một chu kì cảm xúc: dồn nén rồi lan tỏa, uất nghẹn rồi tha thiết. Các biện pháp điệp ngữ (“Kìa”, “Sao cho khỏi”), đối, câu hỏi tu từ, điển tích lịch sử được sử dụng đúng lúc, khiến lời khuyên vừa có lí vừa có tình.
Hai chữ nước nhà là một minh chứng cho sức mạnh của văn chương yêu nước: không cần hô hào ồn ào, chỉ bằng lời một người cha nói với con, bài thơ đã thức tỉnh biết bao tấm lòng. Hơn một thế kỉ đã trôi qua, hai chữ “nước nhà” trong bài thơ vẫn là lời nhắc mỗi người trẻ hôm nay: sống có lí tưởng, có trách nhiệm, để không phụ công ơn của những thế hệ đã đi trước.
Phân tích Hai chữ nước nhà – mẫu 4 (lời trao gửi của người cha)
Trong Hai chữ nước nhà, Trần Tuấn Khải đã dựng lên hình tượng một người cha đầy xúc động: bị giặc bắt, sắp phải xa quê hương mãi mãi, nhưng điều ông bận lòng nhất không phải thân mình mà là vận nước. Lời trao gửi của người cha ấy chính là linh hồn của đoạn trích trong SGK.
Trước hết, đó là lời trao gửi của một người đã hết đường lựa chọn. Người cha nói thẳng mình “tuổi già sức yếu”, “sa cơ”, “đành chịu bó tay”. Những từ ngữ ấy cho thấy nỗi đau của một người yêu nước bị tước mất khả năng hành động. Nhưng chính trong bất lực, lời trao gửi lại trở nên thiêng liêng: “Giang san gánh vác sau này cậy con”. Việc gánh vác giang sơn vốn là việc của cả một triều đình, giờ đây được gửi vào một người con, cho thấy người cha tin con đến tuyệt đối.
Thứ hai, đó là lời trao gửi có lí lẽ, có dẫn chứng. Người cha không ép buộc mà thuyết phục bằng lịch sử. Tổ tiên đã từng gian lao vì nước; Hai Bà Trưng “Giết giặc nước, trả thù chồng”; Trần Hưng Đạo làm nên chiến thắng Bạch Đằng. Những tấm gương ấy cho người con thấy mình không đơn độc: phía sau là cả một truyền thống. Và khi người cha hỏi “Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?”, người con hiểu rằng nếu mình quay lưng thì cũng có một phần trách nhiệm trong nỗi nhục chung.
Thứ ba, đó là lời trao gửi về lẽ sống, không chỉ về việc làm. Người cha dặn con nhớ chữ “Gia, Quốc”, nhớ chí làm trai, coi nhẹ vinh hoa, thương lấy giống nòi. Ông phân biệt rạch ròi nhục và vinh:
Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
Bốn dòng thơ khép lại đoạn trích như một bản tổng kết. Hai dòng đầu là chân lí về giá trị con người; hai dòng sau là tiếng gọi của tình cha con. Người cha muốn con hiểu: làm tròn nghĩa vụ với nước cũng là cách báo đáp công ơn sinh thành, còn sống cuộc đời nô lệ dù giàu sang cũng là làm nhục cha mẹ, tổ tiên.
Lời trao gửi ấy được diễn đạt bằng thể song thất lục bát với giọng điệu thống thiết, lúc dồn nén, lúc tha thiết, khiến người đọc như nghe được cả tiếng nghẹn ngào của người cha. Qua hình tượng Nguyễn Phi Khanh, Trần Tuấn Khải đã gửi đến đồng bào mình một lời nhắn: đất nước đang cần những người con biết đứng lên. Lời nhắn ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị với thế hệ trẻ, những người đang được trao lại trách nhiệm dựng xây đất nước.
Phân tích Hai chữ nước nhà – mẫu 5 (nghệ thuật song thất lục bát)
Song thất lục bát là thể thơ thuần Việt từng làm nên những kiệt tác như Chinh phụ ngâm (bản dịch), Cung oán ngâm khúc. Đến đầu thế kỉ XX, Á Nam Trần Tuấn Khải đã dùng thể thơ ấy để viết Hai chữ nước nhà, và chính hình thức này góp phần quan trọng làm nên sức lay động của bài thơ.
Mỗi khổ thơ gồm bốn dòng: hai dòng bảy chữ, một dòng sáu chữ và một dòng tám chữ. Hai dòng thất thường ngắt nhịp 3/4, gieo vần trắc, như trong câu “Cha xót phận / tuổi già sức yếu”. Nhịp lẻ và vần trắc tạo cảm giác gập ghềnh, nghẹn ngào, rất phù hợp để diễn tả nỗi đau của một người cha sa cơ. Ngay sau đó, cặp lục bát “Thân lươn bao quản vũng lầy, / Giang san gánh vác sau này cậy con” lại mở ra nhịp chẵn êm hơn, âm vần bằng ngân dài. Nỗi đau được dồn nén ở câu thất rồi được giải tỏa thành lời tâm sự, lời gửi gắm ở câu lục bát.
Cách gieo vần của thể thơ cũng tạo nên sự liền mạch. Chữ cuối câu bát “con” bắt vần với chữ “tôn” ở câu thất mở đầu khổ sau (“Con nên nhớ tổ tôn khi trước”), nên các khổ nối vào nhau như dòng lời không dứt. Người đọc cảm nhận được người cha đang nói một mạch, dồn hết tâm huyết vào những giây phút cuối cùng.
Thể thơ còn phù hợp với nhiều giọng điệu trong đoạn trích. Khi nhắc lịch sử, câu thất trở nên hào sảng: “Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến; / Vì giống nòi huyết chiến bao phen.” Khi nói nỗi nhục hiện tại, câu lục bát lại trĩu buồn: “Giang san này vẫn giang san, / Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?” Khi dạy con lẽ sống, cặp câu thất đối nhau chan chát: “Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục, / Thân tự do, chiên chúc mà vinh.” Sự linh hoạt ấy cho thấy tác giả đã làm chủ thể thơ, không để niêm luật gò bó cảm xúc.
Bên cạnh thể thơ, Trần Tuấn Khải còn dùng nhiều biện pháp tu từ: điệp từ “Kìa” như cử chỉ chỉ trỏ; điệp cấu trúc “Sao cho khỏi…” nhấn mạnh yêu cầu sống xứng đáng; câu hỏi tu từ “vì ai?” thức tỉnh lương tâm; lời gọi “Con ơi!” đầy xúc động. Tất cả hòa vào nhạc điệu song thất lục bát, tạo nên một giọng thơ thống thiết, lâm li mà vẫn hào hùng.
Có thể nói, nếu nội dung yêu nước là linh hồn thì thể song thất lục bát chính là giọng nói của Hai chữ nước nhà. Nhờ giọng nói ấy, bài thơ dễ ngâm, dễ thuộc, dễ lan truyền trong nhân dân, làm tròn sứ mệnh của một lời kêu gọi yêu nước trong những năm tháng đen tối của dân tộc.
Kết luận
Năm bài văn mẫu trên giúp em tiếp cận Hai chữ nước nhà từ nhiều hướng: nỗi đau của người cha, truyền thống lịch sử, lời dặn về lẽ sống và nghệ thuật song thất lục bát. Khi làm bài, em nên bám bố cục ba phần của đoạn trích, trích dẫn ngắn gọn, chính xác và kết hợp phân tích nội dung với hình thức thơ.
Xem thêm: