Soạn bài Hai chữ nước nhà (Trần Tuấn Khải) giúp các em trả lời đầy đủ, ngắn gọn các câu hỏi SGK về đoạn thơ song thất lục bát nổi tiếng mượn lời Nguyễn Phi Khanh dặn dò Nguyễn Trãi. Đây là văn bản đọc thứ hai của Bài 8 “Những cung bậc tình cảm” trong Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo tập 2 (trang 69–72), học sau văn bản về người chinh phụ và cũng viết bằng thể song thất lục bát.
Tìm hiểu chung về bài thơ Hai chữ nước nhà
Trước khi trả lời câu hỏi, em nên nắm chắc vài thông tin về tác giả, xuất xứ, thể thơ và bố cục của đoạn trích trong sách.

Tác giả Trần Tuấn Khải
Trần Tuấn Khải (1895–1983), bút danh quen thuộc là Á Nam, quê ở làng Quang Xán, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Ông là nhà thơ, nhà báo, dịch giả nổi tiếng những năm 1920–1930, sở trường các thể thơ dân tộc như lục bát, song thất lục bát và những bài hát theo làn điệu dân ca. Thơ ông thường mượn chuyện xưa tích cũ để nói nỗi đau mất nước và khích lệ lòng yêu nước; nhiều tập thơ từng bị chính quyền thực dân cấm lưu hành. Các tập thơ tiêu biểu: Duyên nợ phù sinh, Bút quan hoài, Hồn tự lập, Với sơn hà.
Xuất xứ, thể thơ, bố cục đoạn trích
- Xuất xứ: Hai chữ nước nhà là bài thơ mở đầu tập Bút quan hoài I (1924). SGK trích theo Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải (NXB Văn học, 1984).
- Đề tài: mượn chuyện đời Hồ – Minh: Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt giải sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi theo cha đến biên ải, người cha khuyên con quay về lo trả thù nhà, đền nợ nước. Qua lời người cha, tác giả gửi gắm tâm sự yêu nước của người trí thức đầu thế kỉ XX dưới ách thực dân.
- Thể thơ: song thất lục bát; phương thức biểu đạt chính là biểu cảm.
- Đoạn trích trong SGK: 36 dòng, từ dòng 29 đến dòng 64 của bài thơ (bắt đầu từ “Cha xót phận tuổi già sức yếu”).
- Bố cục 3 phần: dòng 29–32: nỗi xót xa của người cha bất lực, đành gửi gắm giang sơn cho con; dòng 33–48: người cha nhắc lại truyền thống giữ nước, những tấm gương anh hùng và nỗi đau hiện tại; dòng 49–64: lời căn dặn con về bổn phận, lẽ sống của người trai trước vận nước.
Chuẩn bị đọc (trang 70)
Phần này yêu cầu em tìm hiểu bối cảnh lịch sử để hiểu vì sao lời người cha trong bài thơ lại đau đớn và thiêng liêng đến vậy.
Câu 1: Tìm hiểu cuộc kháng chiến chống quân Minh và lời dặn của Nguyễn Phi Khanh (trang 70)
Đề bài: Hãy tìm hiểu thông tin về cuộc kháng chiến mười năm chống giặc Minh (1418 – 1428) của dân tộc ta và câu chuyện Nguyễn Phi Khanh dặn dò Nguyễn Trãi trước khi bị quân Minh bắt đưa sang Trung Quốc.
Trả lời:
Cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh (khởi nghĩa Lam Sơn):
- Năm 1407, nhà Hồ kháng chiến thất bại, nước ta rơi vào ách đô hộ tàn bạo của nhà Minh: bóc lột nặng nề, bắt người tài, cướp sách vở, tìm cách đồng hóa.
- Đầu năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hóa), xưng Bình Định Vương. Những năm đầu nghĩa quân gặp rất nhiều khó khăn, phải rút lên núi Chí Linh, có lúc tạm hòa hoãn để giữ lực lượng.
- Từ năm 1424, nghĩa quân chuyển vào Nghệ An, rồi giải phóng dần Tân Bình, Thuận Hóa; năm 1426 tiến ra Bắc, thắng lớn ở Tốt Động – Chúc Động.
- Cuối năm 1427, chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang đập tan viện binh giặc; quân Minh phải xin hòa và rút về nước. Đầu năm 1428, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo, tuyên bố nền độc lập; nhà Lê sơ được thành lập.
- Ý nghĩa: cuộc kháng chiến thể hiện lòng yêu nước, ý chí bất khuất và sức mạnh đoàn kết toàn dân, mở ra thời kì phát triển mới của Đại Việt.
Câu chuyện Nguyễn Phi Khanh dặn dò Nguyễn Trãi: Nguyễn Phi Khanh là quan nhà Hồ, cha của Nguyễn Trãi. Khi nhà Hồ thất bại, ông bị quân Minh bắt giải sang Trung Quốc. Tương truyền Nguyễn Trãi khóc lóc đi theo cha đến tận ải Nam Quan, định theo sang đất giặc để phụng dưỡng. Người cha khuyên con quay trở về, vì làm tròn chữ hiếu không phải là đi theo khóc than mà là lo trả thù nhà, đền nợ nước. Nghe lời cha, Nguyễn Trãi trở về, sau này tìm đến Lam Sơn giúp Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh và trở thành anh hùng dân tộc (xem thêm tác giả Nguyễn Trãi).
Trải nghiệm cùng văn bản
Ba câu hỏi trong khi đọc giúp em theo dõi tâm trạng người cha và mục đích của những lời ông nói.
Câu 1: Tâm trạng của người cha trong khổ thơ đầu đoạn trích (trang 70)
Đề bài: Khổ thơ này thể hiện tâm trạng gì của nhân vật người cha?
Trả lời:
Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Khổ thơ bộc lộ nỗi xót xa, đau đớn của người cha khi tuổi đã già, sức đã yếu lại sa vào tay giặc, không còn cách nào cứu nước. Ông tự ví mình như “thân lươn” chẳng quản “vũng lầy”, nghĩa là không tiếc thân, nhưng vẫn bất lực. Trong nỗi đau ấy có một niềm tin lớn: ông trao lại cho con trọng trách “Giang san gánh vác sau này cậy con”. Như vậy, tâm trạng người cha vừa uất ức, bất lực trước cảnh ngộ, vừa tha thiết yêu nước và đặt trọn niềm tin vào con.
Câu 2: Mục đích của những câu chuyện, nhân vật lịch sử ở dòng 37–52 (trang 71)
Đề bài: Nhân vật người cha đã dẫn ra những câu chuyện, nhân vật lịch sử (trong các dòng thơ từ dòng 37 đến dòng 52) nhằm mục đích gì?
Trả lời: Người cha nhắc đến Hai Bà Trưng (Trưng Nữ) khởi nghĩa “Giết giặc nước, trả thù chồng” và Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên trên sông Bạch Đằng nhằm:
- Khơi dậy niềm tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc: đời nào nước ta cũng có anh hùng, kể cả những người phụ nữ.
- Nhắc con rằng giang sơn hôm nay là do bao thế hệ đổ máu giữ gìn, từ đó thấy nỗi nhục của cảnh mất nước hiện tại (“Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?”).
- Nêu tấm gương để con noi theo, khích lệ ý chí đánh giặc, trả thù nhà, đền nợ nước; lời khuyên nhờ có bằng chứng lịch sử mà trở nên thuyết phục hơn.
Câu 3: Em hiểu thế nào về hai dòng thơ cuối? (trang 71)
Trả lời:
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
Hai dòng thơ là lời nhắn nhủ tha thiết cuối cùng của người cha. “Đức sinh thành” trước hết là công ơn cha mẹ sinh ra, nuôi dưỡng; rộng hơn là công ơn của tổ tiên, của đất nước đã cưu mang mỗi con người. Nhớ ơn sinh thành thì phải sống sao cho xứng đáng, không để tiếng xấu (“ô danh”) với đời: không cúi đầu làm tay sai, không vì phú quý mà quên nước. Tiếng gọi “Con ơi!” khiến lời dặn vừa là mệnh lệnh của lương tâm, vừa là lời của tình cha con, làm cho bổn phận với nước trở thành cách báo hiếu cao nhất.
Suy ngẫm và phản hồi (trang 71–72)
Sáu câu hỏi sau khi đọc tập trung vào thi luật song thất lục bát, nghệ thuật thuyết phục và chủ đề của văn bản. Thơ song thất lục bát còn trở lại ở Câu 6 phần Đọc của ôn tập cuối kì II Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo.
Câu 1: Thi luật của thơ song thất lục bát trong bài thơ (trang 71)
Đề bài: Thi luật của thơ song thất lục bát được thể hiện trong bài thơ như thế nào?
Trả lời: Có thể xét trên khổ đầu đoạn trích:
- Số chữ, số dòng: mỗi khổ gồm bốn dòng: hai dòng bảy chữ (song thất) tiếp đến một dòng sáu chữ và một dòng tám chữ (lục bát). Cả đoạn trích có 9 khổ như vậy nối tiếp nhau.
- Vần: chữ cuối dòng thất thứ nhất vần trắc với chữ thứ năm dòng thất thứ hai (“yếu” – “chịu”); chữ cuối dòng thất thứ hai vần bằng với chữ cuối dòng lục (“tay” – “lầy”); chữ cuối dòng lục vần với chữ thứ sáu dòng bát (“lầy” – “này”); chữ cuối dòng bát lại vần với chữ thứ năm dòng thất đầu khổ sau (“con” – “tôn”), nhờ đó các khổ liền mạch.
- Nhịp: dòng thất thường ngắt 3/4 (Cha xót phận / tuổi già sức yếu), dòng lục bát ngắt nhịp chẵn 2/2/2, 2/2/2/2 hoặc 4/4.
- Thanh điệu: dòng thất có sự phối hợp bằng – trắc ở các chữ thứ 3, 5, 7; dòng lục bát theo luật nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh.
Tác dụng: vần trắc ở cặp câu thất tạo âm hưởng dồn nén, day dứt; cặp lục bát mềm mại, ngân vang như lời ru, lời than. Sự xen kẽ ấy rất hợp để diễn tả nỗi đau uất và lời khuyên tha thiết của người cha.
Câu 2: Từ ngữ, hình ảnh tăng sức cảm hóa, thuyết phục trong lời khuyên (trang 71)
Đề bài: Tìm một số từ ngữ, hình ảnh trong văn bản mà theo em có tác dụng tăng sức cảm hoá, thuyết phục trong lời khuyên của người cha đối với người con.
Trả lời:
| Từ ngữ, hình ảnh | Tác dụng |
| “tuổi già sức yếu”, “sa cơ”, “bó tay”, “Thân lươn bao quản vũng lầy” | Người cha tự nói về cảnh ngộ bất lực của mình, khiến lời trao gửi thêm xót xa, người con không thể chối từ. |
| “Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây”, Trưng Nữ, Hưng Đạo, “Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên” | Dẫn chứng lịch sử hào hùng, khơi dậy lòng tự hào và ý thức nối tiếp truyền thống. |
| “Giang san này vẫn giang san”, “sẻ nghé tan đàn” | Đối lập quá khứ vẻ vang với hiện tại tan tác, gợi nỗi nhục mất nước. |
| “hồ thỉ bốn phương”, “gương Lạc Hồng”, “hào kiệt” | Gợi chí làm trai và nguồn cội con Lạc cháu Hồng, đặt người con vào trách nhiệm của cả dòng giống. |
| “Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục”, “Thân tự do, chiên chúc mà vinh” | Phép đối rõ ràng giữa nhục và vinh, giúp con phân biệt lẽ sống đúng – sai. |
| Lời gọi “Con ơi!”, “đức sinh thành” | Chạm vào tình cha con, biến lời khuyên thành lời tâm huyết, trăng trối. |
Câu 3: Tác dụng của cách gieo vần, ngắt nhịp, điệp từ, điệp ngữ (trang 71)
Đề bài: Nêu tác dụng của cách gieo vần, ngắt nhịp, cách sử dụng điệp từ, điệp ngữ trong văn bản.
Trả lời:
- Gieo vần: vần lưng và vần chân đan xen bằng – trắc nối các dòng, các khổ thành một mạch liền, tạo nhạc điệu vừa trầm buồn vừa tha thiết, dễ thuộc, dễ ngâm.
- Ngắt nhịp: nhịp 3/4 ở dòng thất tạo cảm giác dồn dập, nghẹn ngào (hợp với những lời uất ức, căm hờn); nhịp chẵn ở dòng lục bát chậm rãi, sâu lắng như lời tâm sự.
- Điệp từ, điệp ngữ: “Kìa” (Kìa Trưng Nữ, Kìa Hưng Đạo) như chỉ tận tay cho con thấy những tấm gương; “Giang san này vẫn giang san” nhấn mạnh non sông vẫn thế mà con người thì để mất nước; cấu trúc “Sao cho khỏi…” lặp lại (thẹn với gương Lạc Hồng, để ô danh với đời) và tiếng gọi “Con” lặp nhiều lần làm lời khuyên thêm tha thiết, khắc sâu vào lòng người nghe.
Nhờ các yếu tố này, giọng thơ trở nên thống thiết, giàu sức lay động, phù hợp với mục đích khích lệ lòng yêu nước.
Câu 4: Bố cục và mạch cảm xúc của văn bản (trang 71)
Đề bài: Xác định bố cục, từ đó chỉ ra mạch cảm xúc của văn bản.
Trả lời:
- Phần 1 (dòng 29–32): nỗi đau xót, bất lực của người cha và lời gửi gắm giang sơn cho con.
- Phần 2 (dòng 33–48): người cha nhắc truyền thống dựng nước, giữ nước, tấm gương Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo; niềm tự hào xen lẫn nỗi đau trước cảnh “sẻ nghé tan đàn” hiện tại.
- Phần 3 (dòng 49–64): lời căn dặn tha thiết về bổn phận của người con: đặt nợ nước lên trên, không ham vinh hoa, không làm kiếp luồn cúi, sống xứng với đức sinh thành.
Mạch cảm xúc: từ đau xót, bất lực → tự hào về lịch sử, đau đớn vì hiện tại → tha thiết, quyết liệt khích lệ và đặt trọn niềm tin vào con. Cảm xúc đi từ nỗi riêng của một người cha đến tình cảm chung với vận nước, càng về cuối càng dâng cao.
Câu 5: Chủ đề, cảm hứng chủ đạo và căn cứ xác định chủ đề (trang 72)
Đề bài: Nêu chủ đề và cảm hứng chủ đạo của văn bản. Cho biết một số căn cứ để xác định chủ đề.
Trả lời:
- Chủ đề: lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với vận mệnh đất nước, thể hiện qua lời người cha trao gửi sự nghiệp cứu nước cho con.
- Cảm hứng chủ đạo: cảm hứng yêu nước mang màu sắc bi tráng: đau xót trước cảnh nước mất nhà tan, tự hào về truyền thống anh hùng và tha thiết khích lệ thế hệ sau đứng lên.
- Căn cứ: nhan đề “Hai chữ nước nhà”; tình huống người cha bị giặc bắt, chia tay con nơi biên ải; hệ thống hình ảnh lịch sử (Trưng Nữ, Hưng Đạo, Bạch Đằng, Lạc Hồng); những lời khuyên trực tiếp về nhục – vinh, về giống nòi; giọng điệu thống thiết của thể song thất lục bát.
Câu 6: Thông điệp tác giả gửi gắm qua văn bản (trang 72)
Trả lời: Qua lời người cha thời Hồ – Minh, Trần Tuấn Khải gửi tới đồng bào đầu thế kỉ XX thông điệp: nước mất thì nhà tan, chữ hiếu lớn nhất là làm tròn nghĩa vụ với đất nước; mỗi người, nhất là thế hệ trẻ, phải biết tự hào về truyền thống cha ông, không cam chịu làm nô lệ, không vì phú quý mà quên giống nòi, sẵn sàng hi sinh để giành lại độc lập. Với học sinh hôm nay, thông điệp ấy nhắc chúng ta sống có trách nhiệm, học tập, rèn luyện để xứng đáng với lịch sử dân tộc.
Kết luận
Qua bài soạn, em thấy Hai chữ nước nhà là lời tâm huyết của người cha đồng thời là tiếng lòng yêu nước của Á Nam Trần Tuấn Khải. Thể song thất lục bát với giọng điệu thống thiết, những hình ảnh lịch sử quen thuộc và lời khuyên chân thành đã làm cho bài thơ có sức lay động lớn. Em nên đọc diễn cảm đoạn trích, chú ý nhịp 3/4 ở dòng thất và cách gieo vần để cảm nhận rõ hơn.
Xem thêm: