Phân tích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia là dạng đề thường gặp khi học Bài 3 “Nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận”, sách Ngữ văn 10 Kết nối tri thức. Với văn bản nghị luận trung đại này, bài phân tích cần làm rõ luận đề, hệ thống luận điểm, cách tác giả kết hợp lí lẽ với bằng chứng và ý nghĩa của tư tưởng trọng dụng hiền tài.
Bài viết gồm dàn ý chi tiết và 6 bài văn mẫu với các hướng khai thác khác nhau. Bản dịch trong SGK còn được bảo hộ bản quyền nên các bài mẫu chỉ trích những câu ngắn tiêu biểu; em nên đọc kĩ toàn văn trong bài soạn bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia trước khi viết.

Dàn ý phân tích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
1. Mở bài
– Giới thiệu Thân Nhân Trung: đại thần, nhà văn thời Lê Thánh Tông, Tao đàn phó nguyên súy.
– Giới thiệu văn bản: trích bài văn bia khoa Nhâm Tuất (1442), soạn năm 1484, khắc trên tấm bia tiến sĩ đầu tiên ở Văn Miếu; nêu tư tưởng nổi tiếng về vai trò của hiền tài.
2. Thân bài
a. Luận đề: vai trò của hiền tài đối với quốc gia
+ Hiền tài là người tài cao, học rộng, có đạo đức; nguyên khí là khí chất gốc làm nên sự sống.
+ Mối quan hệ nhân quả: nguyên khí thịnh – nước mạnh; nguyên khí suy – nước yếu.
⇒ Hiền tài quyết định sự thịnh suy của đất nước.
b. Sự trọng đãi hiền tài của các bậc minh quân
+ Coi bồi dưỡng, kén chọn nhân tài là việc đầu tiên.
+ Bằng chứng: ban khoa danh, tước trật, khắc tên tháp Nhạn, bảng Long hổ, tiệc Văn hỉ.
⇒ Triều đình đã làm tất cả để tôn vinh người tài.
c. Ý nghĩa của việc khắc bia đề danh
+ Vinh dự trước đó chỉ nhất thời, cần lưu danh lâu dài.
+ Khích lệ kẻ sĩ rèn luyện, giúp nước; không phải vì hư danh.
+ Trách nhiệm của kẻ sĩ: câu hỏi tu từ nhắc tự trọng, báo đáp.
+ Bài học lịch sử: người thành danh và kẻ sa ngã; tác dụng răn ác, khuyến thiện, nối quá khứ với tương lai, củng cố vận nước.
d. Nghệ thuật
+ Lập luận chặt chẽ, luận điểm nối tiếp logic; lí lẽ kết hợp bằng chứng.
+ Câu văn cân đối, phép đối lập, so sánh, câu hỏi tu từ; giọng văn trang trọng.
+ Sự thống nhất hai tư cách: người truyền đạt ý vua và kẻ sĩ được trọng dụng.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị tư tưởng và nghệ thuật của văn bản.
– Liên hệ ý nghĩa của tư tưởng trọng dụng nhân tài trong thời đại hôm nay.
Phân tích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia – mẫu 1
Trong lịch sử dân tộc, hiếm có câu văn nào được nhắc lại nhiều như câu mở đầu bài văn bia do Thân Nhân Trung soạn năm 1484: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Hơn năm thế kỉ trôi qua, câu văn ấy vẫn nằm trên tấm bia đá ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vẫn là lời nhắc nhở về cách một đất nước đối đãi với người tài. Đoạn trích được học trong chương trình Ngữ văn 10 cho thấy không chỉ tư tưởng tiến bộ của triều Lê mà còn cả nghệ thuật lập luận mẫu mực của văn nghị luận trung đại.
Thân Nhân Trung là đại thần được vua Lê Thánh Tông tin dùng, từng giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám, Thượng thư bộ Lại, Tao đàn phó nguyên súy. Năm 1484, khi nhà vua cho dựng bia đề danh tiến sĩ, ông được giao soạn bài kí cho khoa thi Nhâm Tuất (1442). Bài văn vì thế mang tư cách một văn bản chính thức của triều đình, đồng thời chứa đựng tâm huyết của một người cả đời gắn bó với việc học và việc tuyển chọn nhân tài.
Luận đề được nêu ngay từ đầu, ngắn gọn như một chân lí. Tác giả so sánh hiền tài – người tài cao, học rộng, có đạo đức – với nguyên khí, tức khí chất ban đầu làm nên sự sống. Cách so sánh ấy nâng vị trí của người tài lên tầm gốc rễ: một cơ thể thiếu nguyên khí sẽ suy kiệt, một quốc gia thiếu hiền tài cũng không thể đứng vững. Câu văn tiếp theo triển khai mối quan hệ nhân quả bằng hai vế đối xứng: “nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Hai vế cân đối, đối lập nhau (thịnh – suy, mạnh – yếu, lên cao – xuống thấp) khiến lí lẽ vừa rõ ràng vừa dễ nhớ, gần như không thể bác bỏ.
Từ luận đề, tác giả rút ra hệ quả tất yếu: các bậc vua sáng đều lấy việc “bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí” làm việc đầu tiên. Ba cụm từ song song như ba bước của một chính sách: nuôi dạy, tuyển chọn, vun đắp. Tiếp đó, ông dẫn ra những bằng chứng cụ thể về sự trọng đãi của triều đình: ban danh tiếng, chức tước, khắc tên người đỗ lên tháp Nhạn, ghi bảng Long hổ, mở tiệc Văn hỉ. Cách liệt kê tăng tiến cho thấy nhà nước đã dành cho người tài những vinh dự cao nhất có thể.
Điểm tinh tế của lập luận nằm ở đoạn tiếp theo. Tác giả cho rằng những vinh dự ấy dù lớn vẫn chỉ rạng rỡ một thời, tiếng khen chưa thể còn mãi với năm tháng. Vì vậy việc dựng bia đá là bước đi cần thiết, nhằm khích lệ kẻ sĩ tu dưỡng, giữ danh tiết và tận lực vì nước. Ông còn chủ động gạt đi một cách hiểu sai có thể có khi khẳng định việc dựng bia không phải để “chuộng văn suông, ham tiếng hão”. Như vậy, tấm bia không phải công trình phô trương mà là một công cụ giáo dục lâu dài.
Không chỉ nói về triều đình, tác giả còn quay sang người được tôn vinh. Câu hỏi tu từ về “kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh” vừa gợi xuất thân khiêm tốn của người đi học, vừa đặt ra trách nhiệm: đã được đề cao đến thế thì phải biết tự trọng và đền đáp. Câu hỏi không cần trả lời nhưng khiến người đọc phải tự vấn.
Đoạn cuối là bài học rút ra từ thực tế. Điểm lại những người đỗ khoa Nhâm Tuất, tác giả thẳng thắn thừa nhận có người làm rạng danh đất nước nhưng cũng có kẻ vì tham của đút lót mà sa ngã. Sự thẳng thắn ấy làm lập luận thêm khách quan và thuyết phục. Từ đó, ông khái quát tác dụng nhiều mặt của tấm bia: “kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng”, lấy chuyện cũ soi đường cho mai sau, vừa giữ gìn thanh danh sĩ phu vừa củng cố vận nước.
Về nghệ thuật, đoạn trích là mẫu mực của văn nghị luận trung đại: luận đề rõ ràng, luận điểm nối tiếp chặt chẽ, lí lẽ đi liền bằng chứng, câu văn cân đối, giọng văn trang trọng mà vẫn có chiều sâu cảm xúc. Người viết vừa nói bằng tư cách của người truyền đạt ý vua, vừa nói bằng tấm lòng của một kẻ sĩ biết ơn và tự ý thức trách nhiệm.
Đọc lại văn bản hôm nay, ta càng thấm thía tầm nhìn của cha ông. Từ năm 1484, dựng bia tiến sĩ trở thành truyền thống, để lại cho Văn Miếu 82 tấm bia được UNESCO ghi danh là Di sản tư liệu thế giới. Nhưng giá trị lớn nhất mà Thân Nhân Trung để lại không phải là bia đá, mà là tư tưởng: một dân tộc muốn hưng thịnh phải biết quý trọng, bồi dưỡng và sử dụng người tài.
Phân tích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia ngắn gọn – mẫu 2
Thân Nhân Trung là đại thần, nhà văn nổi tiếng thời Lê Thánh Tông. Đoạn trích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, rút từ bài văn bia khoa thi Nhâm Tuất (1442) soạn năm 1484, là một văn bản nghị luận chặt chẽ về vai trò của người tài đối với đất nước.
Ngay câu đầu, tác giả nêu luận đề bằng một phép so sánh sâu sắc: hiền tài là nguyên khí, là khí chất gốc làm nên sức sống của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì nước mạnh, nguyên khí suy thì nước yếu. Vì vậy các bậc vua sáng đều đặt việc bồi dưỡng, tuyển chọn người tài lên hàng đầu và tôn vinh kẻ sĩ bằng nhiều cách như ban chức tước, khắc tên tháp Nhạn, ghi bảng Long hổ, mở tiệc Văn hỉ.
Tiếp đó, tác giả lí giải việc dựng bia đề danh: vinh dự trước kia chỉ nhất thời, còn bia đá giúp tiếng thơm lưu truyền, khích lệ kẻ sĩ rèn luyện và cống hiến, không phải vì chuộng hư danh. Ông nhắc người được tôn vinh phải tự trọng, báo đáp, và rút ra bài học từ những người đỗ khoa trước: có người thành danh, có kẻ sa ngã. Tấm bia vì thế có tác dụng lâu dài: “kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng”.
Văn bản có lập luận chặt chẽ, luận điểm nối tiếp logic, lí lẽ kết hợp bằng chứng, câu văn cân đối và giọng điệu trang trọng. Tư tưởng trọng dụng hiền tài mà Thân Nhân Trung khẳng định cách đây hơn năm thế kỉ vẫn còn nguyên giá trị với đất nước hôm nay.
Phân tích nghệ thuật lập luận trong Hiền tài là nguyên khí của quốc gia – mẫu 3
Văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia được xếp vào bài học về nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận không phải ngẫu nhiên. Chỉ trong một đoạn văn bia ngắn, Thân Nhân Trung đã xây dựng một hệ thống lập luận chặt chẽ đến mức mỗi câu đều là một mắt xích không thể thiếu.
Trước hết là cách nêu luận đề. Tác giả không mở đầu bằng lời dẫn dắt dài dòng mà đặt ngay một nhận định mang tính chân lí: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Phép so sánh hiền tài với nguyên khí vừa cụ thể vừa khái quát: ai cũng hiểu một cơ thể suy kiệt khi mất sinh khí, nên cũng dễ dàng chấp nhận rằng quốc gia suy yếu khi thiếu người tài. Luận đề được củng cố ngay bằng hai vế đối xứng về thịnh – suy, mạnh – yếu, tạo sức nặng của một quy luật.
Thứ hai là trình tự luận điểm. Từ vai trò của hiền tài, tác giả chuyển sang hành động của các bậc minh quân; từ những vinh dự đã có, ông chỉ ra điểm còn thiếu để đi tới việc dựng bia; từ việc dựng bia, ông nói tới trách nhiệm của kẻ sĩ; cuối cùng là tác dụng lâu dài của tấm bia. Mỗi luận điểm vừa là kết quả của luận điểm trước vừa là tiền đề cho luận điểm sau, khiến người đọc được dẫn dắt tự nhiên tới kết luận.
Thứ ba là sự kết hợp lí lẽ và bằng chứng. Lí lẽ về vai trò của nguyên khí được minh chứng bằng những việc làm cụ thể của triều đình: ban khoa danh, tước trật, khắc tên tháp Nhạn, ghi bảng Long hổ, mở tiệc Văn hỉ. Nhận định về tác dụng của bia được minh chứng bằng thực tế những người đỗ khoa Nhâm Tuất: có người đem tài văn chương, chính sự góp phần làm nên thái bình, có kẻ vì nhận đút lót mà hư hỏng. Việc dám nêu cả mặt tiêu cực cho thấy người viết tôn trọng sự thật, nhờ vậy lập luận càng khách quan.
Thứ tư là những thao tác lường trước phản bác. Khi viết rằng việc dựng bia không phải để “chuộng văn suông, ham tiếng hão”, tác giả đã chủ động trả lời câu hỏi mà người đọc có thể đặt ra: phải chăng đây chỉ là hình thức? Cách lập luận này giúp bài văn chặt chẽ, không để lại kẽ hở.
Thứ năm là câu hỏi tu từ. Ở đoạn nói về trách nhiệm của kẻ sĩ, tác giả không ra lệnh mà hỏi: họ phải làm thế nào để tự trọng và báo đáp? Câu hỏi khơi gợi lòng tự trọng, khiến người đọc tự tìm câu trả lời, vì thế sức thuyết phục sâu hơn một lời răn dạy trực tiếp.
Cuối cùng là ngôn ngữ và giọng điệu. Câu văn nhiều vế song song, đối xứng như “kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng”, “dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai” tạo nhịp điệu trang trọng, dễ nhớ, phù hợp với văn khắc trên bia đá. Giọng văn nghiêm cẩn nhưng thấm đượm tình cảm của người viết đối với sự nghiệp giáo dục.
Tất cả những yếu tố ấy làm nên sức thuyết phục bền lâu của văn bản. Học đoạn trích, chúng ta không chỉ hiểu tư tưởng trọng dụng nhân tài của cha ông mà còn học được cách xây dựng một bài nghị luận: luận đề rõ, luận điểm mạch lạc, lí lẽ đi cùng bằng chứng và luôn tính đến góc nhìn của người đọc.
Phân tích tư tưởng trọng dụng hiền tài trong văn bản – mẫu 4
Thời nào cũng cần người tài, nhưng không phải thời nào cũng biết quý người tài. Triều Lê dưới thời Lê Thánh Tông là một trong những giai đoạn giáo dục, khoa cử phát triển rực rỡ của nước ta, và bài văn bia của Thân Nhân Trung chính là bản tuyên ngôn cô đọng nhất về tư tưởng trọng dụng hiền tài của triều đại ấy.
Tư tưởng ấy trước hết thể hiện ở nhận thức đúng đắn về vai trò của người tài. Coi hiền tài là nguyên khí, tác giả đặt người tài vào vị trí nền tảng của quốc gia. Không phải đất đai, binh lực hay của cải, mà chính con người có tài, có đức mới quyết định đất nước mạnh hay yếu, lên hay xuống. Đó là một nhận thức tiến bộ, cho thấy tầm nhìn xa của nhà nước phong kiến thời Lê.
Tư tưởng ấy còn thể hiện ở hành động cụ thể. Các bậc vua sáng không chỉ nói mà đã làm: coi việc “bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí” là việc đầu tiên, dành cho người đỗ đạt đủ loại vinh dự từ danh tiếng, chức tước đến yến tiệc. Theo phần tiểu dẫn trong SGK Ngữ văn 10 chương trình cũ, từ năm 1439, nhà Lê đã có các lệ xướng danh, treo bảng, ban mũ áo, cấp ngựa, cho vinh quy bái tổ. Việc dựng bia năm 1484 là bước cao hơn: không chỉ tôn vinh người tài trong hiện tại mà còn lưu danh họ cho muôn đời.
Điều đáng quý là trọng dụng hiền tài không đồng nghĩa với nuông chiều. Tấm bia vừa là vinh dự vừa là tấm gương soi: người được khắc tên phải sống sao cho xứng. Tác giả nhắc kẻ sĩ phải tự trọng và báo đáp, lại thẳng thắn nhắc tới những người đỗ đạt mà sa vào hối lộ, gian ác. Như vậy, tư tưởng trọng hiền tài của Thân Nhân Trung gắn liền với đòi hỏi về đạo đức: tài phải đi cùng đức, vinh dự phải đi cùng trách nhiệm.
Tư tưởng ấy cũng mang tầm nhìn lâu dài. Tấm bia được dựng để “dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai”, nghĩa là lấy chuyện người xưa làm bài học cho người sau. Thực tế lịch sử đã chứng minh: sau tấm bia đầu tiên, Văn Miếu có tới 82 bia tiến sĩ ghi các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779, lưu danh những người như nhà sử học Ngô Sĩ Liên, nhà bác học Lê Quý Đôn, nhà ngoại giao Ngô Thì Nhậm.
Ngày nay, tư tưởng ấy vẫn còn nguyên giá trị. Một đất nước muốn phát triển phải biết phát hiện, đào tạo, trọng dụng và giữ chân người tài; đồng thời người tài phải biết đem tài năng phụng sự cộng đồng. Đọc bài văn bia, mỗi học sinh cũng hiểu rằng việc học không chỉ để đỗ đạt, mà để trở thành người có ích, xứng đáng với niềm tin của đất nước.
Phân tích hai tư cách của người viết trong Hiền tài là nguyên khí của quốc gia – mẫu 5
Một câu hỏi thú vị trong SGK gợi ý rằng khi viết bài văn bia, Thân Nhân Trung thể hiện ít nhất hai tư cách: người truyền đạt ý vua và kẻ sĩ được trọng dụng. Nhìn văn bản từ góc độ này, ta hiểu rõ hơn vì sao bài văn vừa trang trọng vừa có sức lay động.
Với tư cách người truyền đạt ý vua, tác giả nói bằng giọng của triều đình. Ông khẳng định chân lí về vai trò của hiền tài, trình bày những chính sách đãi ngộ kẻ sĩ và giải thích mục đích của việc dựng bia. Giọng văn ở đây trang nghiêm, khúc chiết: người tài là nguyên khí của nước; các bậc vua sáng đều coi việc nuôi dạy, tuyển chọn nhân tài là việc hàng đầu; việc dựng bia không vì hư danh mà để khích lệ kẻ sĩ và củng cố vận nước. Những lời ấy mang sức nặng của một văn bản nhà nước, được khắc vào đá để truyền lại muôn đời.
Với tư cách một kẻ sĩ được trọng dụng, tác giả lại nói bằng giọng của người trong cuộc. Mở đầu, ông khiêm nhường tự nhận mình học thức nông cạn, vụng về nhưng không dám chối từ trọng trách. Đến đoạn nói về trách nhiệm, ông gợi lại xuất thân của người đi học, “kẻ sĩ chốn trường ốc lều tranh”, thân phận nhỏ bé mà được đề cao hết mực. Chính ông cũng từng là một kẻ sĩ như thế, đỗ tiến sĩ khi đã ngoài năm mươi và được vua tin dùng. Vì vậy câu hỏi về sự tự trọng và báo đáp không chỉ dành cho người khác mà còn là lời tự nhắc của chính người viết.
Hai tư cách ấy không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau, chi phối cách triển khai luận điểm. Ở tư cách người truyền đạt ý vua, tác giả đi từ tầm vĩ mô: vai trò của hiền tài với quốc gia, chính sách của triều đình. Ở tư cách kẻ sĩ, ông đi vào chiều sâu nội tâm: lòng biết ơn, ý thức tự trọng, trách nhiệm đền đáp. Nhờ sự kết hợp đó, bài văn vừa có lí vừa có tình. Người đọc là kẻ sĩ thời ấy vừa thấy được sự trân trọng của triều đình, vừa thấy tiếng nói đồng cảm của một người cùng cảnh, nên dễ tiếp nhận thông điệp hơn.
Sự thống nhất hai tư cách còn giúp lập luận khách quan. Khi nói về những người đỗ khoa trước, tác giả không che giấu những kẻ sa ngã; ông nói thẳng như một người trong giới sĩ phu tự nhìn lại mình. Và khi khép bài bằng lời nhắn “Ai xem bia nên hiểu ý sâu này”, ông vừa nói thay nhà vua, vừa nói bằng tấm lòng của người mong thế hệ sau không phụ lòng tin của đất nước.
Qua đó, ta thấy Thân Nhân Trung không chỉ là người viết giỏi mà còn là một nhân cách lớn: trung thành với lí tưởng của triều đại, đồng thời luôn tự ý thức trách nhiệm của người trí thức. Bài học về sự thống nhất giữa lời nói và bản thân người nói vẫn rất đáng suy ngẫm với người viết văn nghị luận hôm nay.
Phân tích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (bài văn học sinh giỏi) – mẫu 6
Bước qua Khuê Văn Các vào khu vườn bia ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, người ta thường lặng đi trước hàng bia đá đặt trên lưng rùa. Mỗi tấm bia là một khoa thi, mỗi cái tên là một đời người đã dùi mài kinh sử. Tấm bia sớm nhất trong số ấy mang bài kí của Thân Nhân Trung, với câu văn mở đầu đã trở thành châm ngôn của cả dân tộc: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Đoạn trích được học trong chương trình Ngữ văn 10 không dài, nhưng chứa đựng cả một triết lí về dựng nước bằng con người.
Năm 1484, vua Lê Thánh Tông cho dựng bia đề danh tiến sĩ, bắt đầu từ khoa Nhâm Tuất năm 1442 – khoa thi có những người như nhà sử học Ngô Sĩ Liên. Thân Nhân Trung, người đỗ tiến sĩ năm 1469 và giữ nhiều trọng trách về giáo dục, được giao soạn bài kí. Ông viết không chỉ bằng bổn phận của một đại thần mà bằng trải nghiệm của một kẻ sĩ từng đi qua con đường khoa cử gian nan.
Bài kí mở ra bằng một định nghĩa có sức khái quát lớn. Hiền tài không đơn thuần là người giỏi, mà là người vừa có tài vừa có đức; nguyên khí không chỉ là sức mạnh, mà là sinh khí gốc làm nên sự sống. Đặt hai khái niệm cạnh nhau, tác giả cho thấy người tài là cội nguồn sức sống của đất nước. Câu văn tiếp theo triển khai thành quy luật: “nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Nhìn lại lịch sử, ta thấy quy luật ấy ứng nghiệm: thời Lý – Trần, thời Lê sơ hưng thịnh đều gắn với những thế hệ nhân tài kiệt xuất, còn những lúc triều chính suy đồi thường cũng là lúc người tài bị gạt ra lề.
Từ nhận thức ấy, tác giả nói đến hành động của các bậc minh quân. Họ coi việc nuôi dạy, tuyển chọn người tài là việc đầu tiên, và triều đình dành cho người đỗ đạt đủ loại vinh dự. Tác giả nói rằng vì mừng có được người tài, triều đình đã làm mọi việc đến mức cao nhất – một sự trân trọng gần như tuyệt đối. Nhưng Thân Nhân Trung không dừng ở việc ca ngợi. Ông nhận ra giới hạn của những vinh dự nhất thời và lí giải vì sao cần một tấm bia: để tiếng thơm của người tài được lưu giữ, để kẻ sĩ đời sau nhìn vào mà phấn chấn noi theo. Ông cũng nói rõ việc dựng bia không phải để chạy theo hình thức, bởi triều đình không vì “chuộng văn suông, ham tiếng hão”.
Đoạn văn đẹp nhất có lẽ là đoạn nói về trách nhiệm. Tác giả nhắc lại xuất thân của người đi học – chốn trường ốc lều tranh, thân phận nhỏ bé – để hỏi rằng khi được tôn vinh đến thế, họ phải sống ra sao cho xứng. Câu hỏi không có lời đáp sẵn, nhưng ai đọc cũng hiểu: tài năng phải đi cùng đức hạnh, vinh dự phải đi cùng bổn phận. Tác giả còn trung thực nêu ra rằng trong số người đỗ đạt, có người làm rạng danh đất nước, cũng có kẻ sa ngã vì tham của đút lót. Bia đá vì thế vừa là bảng vàng vừa là tấm gương: “kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng”.
Về nghệ thuật, văn bản là minh chứng cho sức mạnh của văn nghị luận trung đại. Luận điểm nối tiếp chặt chẽ từ vai trò của hiền tài đến chính sách trọng dụng, lí do dựng bia, trách nhiệm của kẻ sĩ và tác dụng của bia. Lí lẽ luôn đi cùng bằng chứng; câu văn cân đối, giàu nhịp điệu; câu hỏi tu từ tạo chiều sâu suy tưởng. Giọng văn trang trọng của một văn bản triều đình hòa với tiếng nói chân thành của một kẻ sĩ biết ơn và tự ý thức.
Hơn năm trăm năm sau, tấm bia của Thân Nhân Trung cùng 81 tấm bia khác đã được UNESCO ghi danh là Di sản tư liệu thế giới năm 2010. Nhưng di sản quý nhất vẫn là tư tưởng mà ông để lại. Ba thế kỉ sau, Ngô Thì Nhậm – một tiến sĩ có tên trên bia Văn Miếu – thay vua Quang Trung viết Chiếu cầu hiền kêu gọi người tài ra giúp nước, như tiếp nối mạch tư tưởng ấy. Hôm nay, khi tri thức trở thành nguồn lực quan trọng nhất, câu văn trên bia đá càng có ý nghĩa: nhà nước cần biết trọng dụng người tài, còn mỗi người trẻ cần tự rèn cả tài lẫn đức để trở thành một phần nguyên khí của đất nước.
Kết luận
Sáu bài mẫu trên khai thác văn bản từ nhiều góc độ: phân tích toàn bộ mạch lập luận, phân tích nghệ thuật thuyết phục, tư tưởng trọng dụng hiền tài và hai tư cách của người viết. Khi làm bài, em cần nêu rõ luận đề, trình bày các luận điểm theo đúng trình tự văn bản, trích dẫn chính xác những câu then chốt và liên hệ hợp lí với thực tế hôm nay.
Xem thêm: