Hiền tài là nguyên khí của quốc gia là văn bản mở đầu Bài 3 “Nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận”, sách Ngữ văn 10 Kết nối tri thức (tập một). Đoạn trích thuộc bài văn bia do Thân Nhân Trung soạn năm 1484, khắc trên tấm bia tiến sĩ đầu tiên ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Bài viết tổng hợp đầy đủ: nội dung từng đoạn, tiểu sử tác giả, xuất xứ, thể loại văn bia, hệ thống luận điểm, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
Văn bản trong SGK là bản dịch từ chữ Hán (sách cũ ghi theo bản dịch của Viện Sử học, có tham khảo bản dịch của Nguyễn Văn Tố, in trong Văn bia Hà Nội, tập I, 1978). Bản dịch còn trong thời hạn bảo hộ nên dưới đây chỉ lược thuật nội dung theo năm đoạn như cách đánh số của SGK, kèm vài câu trích ngắn. Toàn văn và phần trả lời câu hỏi em xem trong bài soạn bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

- Đoạn (1): Tác giả khiêm nhường nhận lời vua giao, kính cẩn viết bài kí.
- Đoạn (2): Nêu tư tưởng trung tâm: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”; khí chất gốc ấy dồi dào thì đất nước cường thịnh, hao kém thì đất nước suy vi. Vì vậy các bậc vua sáng đều coi việc bồi dưỡng, kén chọn người tài là việc đầu tiên. Triều đình đã trọng đãi kẻ sĩ bằng nhiều cách, từ ban danh tiếng, chức tước đến những vinh dự như “nêu tên ở tháp Nhạn, ban danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ”.
- Đoạn (3): Những việc ấy chỉ vinh hiển một thời, chưa lưu được tiếng thơm lâu dài; vì vậy nhà vua cho dựng bia đá đề danh ở cửa Hiền Quan (Quốc Tử Giám) để kẻ sĩ nhìn vào mà hăng hái tu dưỡng, giữ gìn danh dự và tận tâm phụng sự. Việc dựng bia không phải vì “chuộng văn suông, ham tiếng hão”.
- Đoạn (4): Tác giả đặt câu hỏi về trách nhiệm: kẻ sĩ xuất thân nơi trường ốc lều tranh, được triều đình đề cao đến thế thì phải tự trọng và ra sức báo đáp ra sao.
- Đoạn (5): Điểm lại những người đỗ khoa thi năm ấy: nhiều người đã dùng tài văn chương, việc cai trị làm rạng rỡ thời bình, nhưng cũng có kẻ tham của đút lót mà hỏng người, sa vào phe gian. Từ đó khẳng định tác dụng lâu dài của tấm bia: “kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng”, vừa giúp người đi học giữ gìn thanh danh, vừa làm bền vững vận mệnh đất nước. Bài kí khép lại bằng lời nhắn người xem bia hãy hiểu ý sâu xa của việc làm này.
Chú thích một số từ khó: hiền tài – người vừa giỏi giang, học rộng vừa có đức; nguyên khí – cái khí gốc, nguồn sống ban đầu quyết định sự tồn tại và lớn mạnh của sự vật; tháp Nhạn – ngọn tháp đời Đường (Trung Hoa), nơi khắc tên các tân tiến sĩ; Long hổ – tên bảng vàng ghi người thi đỗ tiến sĩ; tiệc Văn hỉ – yến tiệc chúc mừng người vừa đỗ đạt; cửa Hiền Quan – chỉ trường Quốc Tử Giám; mệnh mạch – ở đây chỉ vận mệnh đất nước.
Thông tin tác giả Thân Nhân Trung
Thân Nhân Trung (1418 – 1499, theo SGK), tự Hậu Phủ, quê làng Yên Ninh (tục gọi làng Nếnh), huyện Yên Dũng, Bắc Giang. Ông đỗ tiến sĩ muộn, năm 1469 (khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Quang Thuận thứ 10, đời Lê Thánh Tông), khi đã ngoài năm mươi tuổi.
Nổi tiếng hay chữ, ông được Lê Thánh Tông tin cậy, thường giao việc từ hàn bên cạnh vua; lần lượt giữ các chức Hàn lâm viện thừa chỉ, Đông các đại học sĩ, Tế tửu Quốc Tử Giám, Thượng thư bộ Lại, nhập nội phụ chính. Khi vua lập hội Tao đàn, ông và Đỗ Nhuận được cử làm Tao đàn phó nguyên súy. Ông nhiều lần được giao chấm thi Đình, góp công lớn vào việc tuyển chọn và đào tạo nhân tài.
Về sáng tác, Thân Nhân Trung tham gia biên soạn Thiên Nam dư hạ tập, Thân chinh kí sự; soạn văn bia Chiêu Lăng (lăng vua Lê Thánh Tông) và các bài văn bia tiến sĩ, tiêu biểu là bài kí khoa Nhâm Tuất (1442) và bài kí khoa Đinh Mùi (1487); có thơ trong Hồng Đức quốc âm thi tập, Quỳnh uyển cửu ca. Văn ông mực thước, trang trọng, lập luận chặt chẽ – đúng phong thái của một đại thần văn học thời Hồng Đức.
Dòng họ Thân của ông là một gia tộc khoa bảng nổi tiếng: ba đời liên tiếp có bốn người đỗ tiến sĩ (Thân Nhân Trung, hai con là Thân Nhân Tín, Thân Nhân Vũ và cháu nội Thân Cảnh Vân). Ngày nay, nhiều trường học, đường phố mang tên ông.
Thông tin tác phẩm Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
Các mục dưới đây trả lời những câu hỏi học sinh hay gặp khi chuẩn bị bài.
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia trích từ đâu?
Văn bản trích từ bài văn bia chữ Hán Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa tiến sĩ đề danh kí, tức bài kí ghi tên các tiến sĩ đỗ khoa thi năm Nhâm Tuất, năm thứ ba niên hiệu Đại Bảo. Đại Bảo là niên hiệu của Lê Thái Tông, năm thứ ba là năm 1442. Bài kí được viết bằng chữ Hán, khắc trên tấm bia tiến sĩ đầu tiên tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội). Nhan đề “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” do người biên soạn đặt, lấy từ câu mở đầu phần lập luận. SGK Kết nối tri thức in đoạn trích theo sách Ngữ văn 10 Nâng cao, tập hai (NXB Giáo dục, 2006).
Hoàn cảnh ra đời
Từ năm 1439, nhà Lê đã có nhiều nghi thức tôn vinh người đỗ đạt cao như đọc tên người đỗ, treo bảng vàng, ban mũ áo, cấp ngựa, mở tiệc và cho vinh quy về làng. Năm 1484 (Hồng Đức thứ 15), vua Lê Thánh Tông cho dựng bia đề danh tiến sĩ cho các khoa thi từ năm 1442 trở đi. Thân Nhân Trung vâng mệnh soạn bài kí cho khoa Nhâm Tuất 1442 – khoa thi có 33 người đỗ tiến sĩ, trong đó có nhà sử học Ngô Sĩ Liên. Việc dựng bia từ đây trở thành truyền thống: hiện Văn Miếu còn 82 bia tiến sĩ, ghi các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779. Năm 2010, hệ thống bia này được UNESCO ghi danh là Di sản tư liệu thế giới (chương trình Ký ức thế giới).
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn bia (bài kí khắc trên bia đá). Văn bia là loại văn phổ biến thời trung đại, ghi lại sự kiện quan trọng hoặc tên tuổi, sự nghiệp của người có công để lưu truyền đời sau; nhiều bài là áng văn nghị luận đặc sắc.
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
- Kiểu văn bản trong SGK: văn nghị luận trung đại (Bài 3 tìm hiểu nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận).
Luận đề và hệ thống luận điểm
Luận đề: vai trò của hiền tài đối với vận mệnh quốc gia, được nêu ngay trong câu “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” và cũng là nhan đề đoạn trích.
Các luận điểm:
- Hiền tài quyết định sự thịnh suy của đất nước.
- Các bậc minh quân luôn trọng dụng hiền tài và đã ban nhiều ân điển cho kẻ sĩ.
- Những ân điển ấy chưa đủ lưu danh lâu dài nên cần khắc bia đề danh.
- Kẻ sĩ được đề cao thì phải tự trọng và ra sức báo đáp.
- Tấm bia có tác dụng răn đe, khuyến khích, lưu giữ bài học cho đời sau và củng cố vận nước.
Bố cục Hiền tài là nguyên khí của quốc gia có mấy phần?
Các tài liệu phổ biến chia văn bản thành 2 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “không có việc gì không làm đến mức cao nhất”): vai trò quan trọng của hiền tài đối với quốc gia và sự trọng đãi của triều đình.
- Phần 2 (còn lại): ý nghĩa của việc dựng bia, khắc tên người đỗ tiến sĩ.
Em cũng có thể chia 3 phần theo mạch lập luận: đoạn (2) – vai trò của hiền tài và các việc làm trọng đãi hiền tài; đoạn (3), (4) – lí do dựng bia và trách nhiệm của kẻ sĩ; đoạn (5) – bài học lịch sử và tác dụng lâu dài của tấm bia.
Giá trị nội dung
- Khẳng định tầm quan trọng của hiền tài: người tài đức là nền tảng, là sức sống ban đầu quyết định sự hưng thịnh của đất nước.
- Cho thấy chính sách trọng dụng nhân tài của nhà Lê, đặc biệt dưới thời Lê Thánh Tông, và ý nghĩa sâu xa của việc khắc bia tiến sĩ.
- Nhắc nhở trách nhiệm của người được tôn vinh; khen người tài đức, răn kẻ sa ngã; gửi bài học cho hậu thế về việc quý trọng, bồi dưỡng hiền tài.
Giá trị nghệ thuật
- Lập luận chặt chẽ, luận điểm nối tiếp logic: từ vai trò của hiền tài đến chính sách trọng dụng, rồi đến việc dựng bia và tác dụng của nó.
- Lí lẽ sắc bén kết hợp bằng chứng lịch sử (những việc làm đã có của triều đình, những người đỗ khoa Nhâm Tuất).
- Câu văn cân đối, dùng phép so sánh, đối lập (thịnh – suy, mạnh – yếu, kẻ ác – người thiện), câu hỏi tu từ ở đoạn (4) tạo sức gợi và sức thuyết phục.
- Giọng văn trang trọng, hài hòa hai tư cách của người viết: vừa truyền đạt ý vua, vừa nói tiếng nói của một kẻ sĩ được trọng dụng.
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề là câu văn then chốt của bài kí, cũng là luận đề của đoạn trích. So sánh hiền tài với nguyên khí – nguồn sống gốc của mọi sự vật – tác giả cho thấy người tài không phải thứ trang sức của triều đình mà là gốc rễ quyết định sự còn mất, mạnh yếu của quốc gia. Đến nay câu văn ấy vẫn nằm trên tấm bia ở Văn Miếu và thường được nhắc lại mỗi khi bàn về giáo dục, nhân tài; ý nghĩa của câu nói em đọc thêm trong bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia là câu nói của ai?.
Sơ đồ tư duy Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

Lời kết
Chỉ trong một đoạn văn bia ngắn, Thân Nhân Trung đã nêu một tư tưởng lớn và lập luận thuyết phục bằng lí lẽ lẫn dẫn chứng. Khi ôn tập, em cần nhớ: tác giả Thân Nhân Trung (1418 – 1499), xuất xứ từ bài kí khoa Nhâm Tuất 1442 soạn năm 1484, luận đề về vai trò của hiền tài, bố cục, các luận điểm và nghệ thuật lập luận của văn nghị luận trung đại. Cùng chủ đề trọng dụng người tài, em có thể đọc thêm Cầu hiền chiếu (Ngô Thì Nhậm) ở lớp 11.
Xem thêm: