Mở bài Cảnh khuya là đoạn dẫn vào bài nghị luận về bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Hồ Chí Minh viết năm 1947 ở chiến khu Việt Bắc, văn bản thực hành đọc trong Ngữ văn 8 Cánh diều và Ngữ văn 12 Kết nối tri thức. Một mở bài tốt cần nêu được hai vẻ đẹp hòa quyện trong bài thơ: cảnh trăng rừng huyền ảo và tấm lòng thao thức vì dân vì nước của Bác. Dưới đây là 13 mẫu viết sẵn, gồm trực tiếp, gián tiếp, theo đề và nâng cao.

Cách viết mở bài Cảnh khuya
- Gọi đúng tác giả, năm và nơi sáng tác: Hồ Chí Minh viết bài thơ năm 1947, ở chiến khu Việt Bắc, khi cuộc kháng chiến chống Pháp mới bước vào năm đầu.
- Nhớ rằng Cảnh khuya được viết bằng tiếng Việt (khác với Rằm tháng giêng viết bằng chữ Hán), theo thể bảy chữ bốn câu.
- Câu chốt phải đúng đề: đề cả bài thì nêu sự gắn bó giữa tình yêu thiên nhiên và nỗi lo việc nước; đề hai câu đầu chỉ nói bức tranh đêm trăng; đề hai câu cuối nói tâm trạng người chưa ngủ.
- Câu thơ trích phải đúng nguyên văn, không đảo chữ hay thêm bớt chữ, nhất là ở câu thứ hai có hai chữ lồng.
Mở bài trực tiếp Cảnh khuya
Mẫu 1 – ngắn gọn
Cảnh khuya là bài thơ bảy chữ bốn câu Hồ Chí Minh viết năm 1947 giữa núi rừng Việt Bắc. Chỉ với hai mươi tám chữ, bài thơ vẽ nên một đêm trăng trong trẻo, đồng thời cho thấy một tâm hồn vừa say cảnh đẹp vừa không lúc nào thôi nghĩ đến vận mệnh đất nước.
Mẫu 2 – giới thiệu đầy đủ tác giả, hoàn cảnh, vấn đề
Hồ Chí Minh (1890–1969) là vị lãnh tụ đã dẫn dắt dân tộc qua hai cuộc kháng chiến, đồng thời để lại một sự nghiệp thơ văn có giá trị lâu bền. Năm 1947, khi Trung ương và Chính phủ đã rút lên chiến khu Việt Bắc để lãnh đạo kháng chiến chống Pháp, Người viết bài thơ Cảnh khuya. Bằng thể thất ngôn tứ tuyệt và lời thơ tiếng Việt giản dị, bài thơ mở ra một đêm rừng đầy tiếng suối, ánh trăng, bóng cây, bóng hoa, để rồi khép lại bằng hình ảnh một con người thức trắng vì việc nước. Giá trị của Cảnh khuya nằm ở chỗ tâm hồn người thi sĩ và trách nhiệm của người chiến sĩ hòa làm một.
Mở bài gián tiếp Cảnh khuya
Mẫu 3 – từ đề tài trăng trong thơ Bác
Đọc thơ Hồ Chí Minh, người ta dễ nhận ra vầng trăng là người bạn thân thiết đi theo Bác qua nhiều chặng đời. Có vầng trăng lọt qua song sắt nhà tù Tưởng Giới Thạch trong Nhật kí trong tù, có vầng trăng rằm tràn đầy khoang thuyền trong Nguyên tiêu. Và giữa núi rừng Việt Bắc năm 1947, có vầng trăng lặng lẽ soi qua tán cổ thụ trong bài thơ Cảnh khuya. Ở bài thơ này, ánh trăng không chỉ làm nên một bức tranh đẹp mà còn soi rõ tâm sự của một vị lãnh tụ chưa thể yên giấc vì nỗi lo chung của đất nước.
Mẫu 4 – từ hai con người thi sĩ và chiến sĩ
Trong con người Hồ Chí Minh luôn có hai nửa sống cạnh nhau rất hài hòa: một nhà thơ nhạy cảm trước cảnh sắc của đất trời và một người chiến sĩ gánh trên vai cả vận nước. Hiếm có bài thơ nào thể hiện hai nửa ấy gọn gàng như Cảnh khuya. Ba câu đầu, ta gặp người nghệ sĩ lắng nghe tiếng suối, ngắm trăng lồng bóng cây; câu cuối, ta gặp người cầm lái cuộc kháng chiến đang trăn trở không ngủ. Phân tích bài thơ là đi tìm sự gặp gỡ giữa cái đẹp của thiên nhiên và cái lớn lao của một tấm lòng vì nước.
Mẫu 5 – từ hoàn cảnh đêm Việt Bắc năm 1947
Năm 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa bắt đầu và còn vô vàn khó khăn. Ở chiến khu Việt Bắc, giữa những đêm rừng tĩnh mịch, vị Chủ tịch nước vẫn miệt mài làm việc đến khuya. Chính trong một đêm như thế, Hồ Chí Minh đã viết bài thơ Cảnh khuya. Bài thơ ghi lại khoảnh khắc Người ngắm cảnh trăng rừng sau giờ làm việc, nhưng cái đọng lại sâu nhất không phải cảnh mà là tâm trạng: thao thức, lo toan cho tương lai của dân tộc.
Mẫu 6 – từ quan niệm “thơ có thép” của Bác
Trong bài Cảm tưởng đọc Thiên gia thi, Hồ Chí Minh từng viết: “Nay ở trong thơ nên có thép”. Với Người, thơ của thời đại mới phải mang tinh thần chiến đấu, phải gắn với vận mệnh dân tộc. Thế nhưng chất thép trong thơ Bác không bao giờ khô cứng. Bài thơ Cảnh khuya là một ví dụ: ba câu đầu ngập tràn trăng, suối và hoa, chỉ đến câu cuối, nỗi lo nước nhà mới hiện lên, nhẹ nhàng mà sâu nặng. Chất thép ẩn trong tình yêu thiên nhiên làm nên sức hấp dẫn riêng của Cảnh khuya.
Mẫu 7 – từ âm thanh tiếng suối
Xưa kia, nghe suối Côn Sơn, Nguyễn Trãi liên tưởng đến tiếng đàn cầm. Khoảng năm thế kỉ sau, giữa rừng Việt Bắc, Hồ Chí Minh lại nghe tiếng suối như lời ca của con người: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”. Chỉ một phép so sánh giản dị, dòng suối vô tri bỗng ấm áp hơi người như một khúc dân ca. Câu thơ mở đầu ấy dẫn ta vào bài thơ Cảnh khuya, nơi cảnh đêm rừng đẹp như tranh và tấm lòng của Bác luôn hướng về đất nước.
Mẫu 8 – từ chữ “lồng” trong câu thơ thứ hai
Có những bài thơ được nhớ nhờ một chữ đặt đúng chỗ. Với bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh, đó là chữ “lồng” được nhắc lại hai lần trong câu “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”. Ánh trăng phủ lên vòm cổ thụ rồi bóng lá ấy đổ xuống từng khóm hoa, tạo nên nhiều tầng sáng tối lung linh. Cảnh rừng khuya vì thế vừa huyền ảo vừa ấm áp. Nhưng bức tranh ấy chỉ là phần mở đầu cho một tâm sự lớn hơn của người chưa ngủ: nỗi lo cho vận nước.
Mẫu 9 – so sánh với Rằm tháng giêng
Những năm đầu kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc, Hồ Chí Minh có hai bài thơ trăng thường được học cùng nhau. Rằm tháng giêng, viết bằng chữ Hán năm 1948, kể chuyện Người bàn việc quân trên con thuyền giữa dòng sông đầy trăng. Cảnh khuya, ra đời năm 1947 và viết bằng tiếng Việt, lại cho thấy Người thao thức giữa đêm rừng. Hai bài thơ khác cảnh, khác ngôn ngữ nhưng giống nhau ở chỗ thiên nhiên luôn gắn với việc nước. Trong Cảnh khuya, sự gắn bó ấy thể hiện qua bức tranh đêm trăng huyền ảo và nỗi trăn trở không ngủ của vị lãnh tụ.
Mẫu 10 – từ cách kết thúc như một lời giải thích
Trong bài nghị luận Vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya, nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn chỉ ra một điều thú vị: hiếm có bài tứ tuyệt nào khép lại bằng một câu cắt nghĩa thẳng thắn như bài thơ này của Hồ Chí Minh. Câu cuối không gợi mà nói rõ: nỗi lo vận nước khiến người thức trắng. Lời thơ mộc mạc ấy lại làm cả bài thơ sáng lên, bởi nó cho thấy phía sau cảnh trăng đẹp là một tâm hồn lớn. Tìm hiểu Cảnh khuya là tìm hiểu sự chuyển mình bất ngờ mà tự nhiên đó.
Mở bài Cảnh khuya theo đề thường gặp
Mẫu 11 – đề phân tích hai câu thơ đầu
Hai câu thơ đầu bài Cảnh khuya của Hồ Chí Minh phác họa khung cảnh núi rừng về khuya với đủ âm thanh, ánh sáng và đường nét. Tiếng suối ngân lên như lời ca vọng lại từ xa, ánh trăng sáng lồng qua cổ thụ rồi in bóng xuống hoa. Chỉ bằng mười bốn chữ, nhà thơ đã gợi ra một không gian vừa tĩnh lặng vừa ấm áp sự sống. Phân tích hai câu thơ này, ta cảm được tâm hồn tinh tế và tình yêu thiên nhiên tha thiết của Bác.
Mẫu 12 – đề phân tích hai câu thơ cuối
Sau hai câu tả cảnh, bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh chuyển hẳn sang nói về con người. Câu thứ ba vừa khép lại phần tả cảnh vừa hé lộ một người đang thức. Câu thứ tư giải thích nguyên do bằng lời thơ giản dị: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Điệp ngữ “chưa ngủ” như một cái bản lề nối hai trạng thái tâm hồn. Hai câu cuối vì thế là nơi kết tinh vẻ đẹp nhân cách của Bác: say mê cái đẹp nhưng không bao giờ quên trách nhiệm với dân tộc.
Mở bài Cảnh khuya nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 13 – từ giấc ngủ của người lãnh tụ
Giấc ngủ là điều bình thường nhất của mỗi con người, nhưng có những người phải gác lại giấc ngủ của mình để người khác được bình yên. Đêm Việt Bắc năm 1947, giữa tiếng suối và ánh trăng, Hồ Chí Minh là một người như thế. Bài thơ Cảnh khuya lưu giữ giây phút ấy bằng một cấu trúc thật đặc biệt: ba câu đầu dẫn ta đi từ âm thanh đến ánh sáng, từ cảnh vật đến cái nhìn tổng thể “như vẽ”, rồi câu cuối đột ngột hạ xuống mặt đất của hiện thực kháng chiến. Cái thức của người nghệ sĩ trước cảnh đẹp và cái thức của người chiến sĩ trước vận nước chồng lên nhau, khiến bài thơ ngắn mà mang sức nặng của cả một thời đại. Đọc Cảnh khuya, ta hiểu thêm vì sao thơ Bác giản dị mà vẫn làm lay động lòng người.
Nên chọn mẫu mở bài Cảnh khuya nào?
Mười ba mẫu mở bài Cảnh khuya ở trên dẫn vào bài thơ của Hồ Chí Minh theo nhiều hướng: giới thiệu thẳng, đi từ đề tài trăng, từ hai con người thi sĩ – chiến sĩ, từ hoàn cảnh Việt Bắc năm 1947, từ chữ “lồng” hay từ cách kết bài đặc biệt. Bài kiểm tra ngắn nên chọn mẫu trực tiếp; đề chỉ hỏi hai câu đầu hoặc hai câu cuối thì dùng mẫu riêng cho từng phần. Em giữ câu chốt đúng đề và viết lại bằng giọng văn của mình.
Xem thêm:
- Tác giả – tác phẩm: Cảnh khuya (Ngữ văn 12 Kết nối tri thức)
- Top 20 bài phân tích bài thơ Cảnh khuya
- Soạn bài Vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya (Lê Trí Viễn) – Ngữ văn 8 Cánh diều
- Tìm hiểu phong cách sáng tác của Hồ Chí Minh
- Những bài thơ Hồ Chí Minh hay nhất
- Mở bài Rằm tháng giêng (Nguyên tiêu) hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, nâng cao
- Kết bài Cảnh khuya (Hồ Chí Minh) hay nhất – 12 mẫu ngắn gọn, liên hệ, theo đề
- Soạn bài Cảnh khuya (Hồ Chí Minh) – Ngữ văn 8 Cánh diều & 12 Kết nối tri thức