Truyện thơ là tác phẩm tự sự được kể bằng thơ: có cốt truyện, nhân vật, sự việc như một câu chuyện, nhưng lời kể là những câu thơ có vần, có nhịp. Ở Việt Nam có hai dòng lớn: truyện thơ dân gian của các dân tộc thiểu số (như Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái) và truyện thơ Nôm của người Việt (như Truyện Kiều, Truyện Lục Vân Tiên), phần nhiều viết theo thể lục bát.
| Nghĩa ngắn | Câu chuyện được kể bằng thơ, vừa tự sự vừa trữ tình |
| Thuộc | Loại tự sự bằng văn vần, có ở cả văn học dân gian và văn học viết |
| Hai dòng chính | Truyện thơ dân gian các dân tộc thiểu số; truyện thơ Nôm (bình dân và bác học) |
| Dấu hiệu nhận biết | Có cốt truyện trọn vẹn, nhân vật, người kể; lời thơ đều đặn, thường là lục bát |
| Học ở | Ngữ văn 9 (đoạn trích Truyện Kiều, Lục Vân Tiên), Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (Lời tiễn dặn) |

Truyện thơ: kể chuyện bằng vần
Thử hình dung người xưa ngồi nghe một câu chuyện dài cả nghìn câu. Nếu kể bằng văn xuôi, khó ai nhớ nổi. Kể bằng thơ thì khác: vần và nhịp giúp người kể thuộc lòng, người nghe cũng nhớ theo. Vì thế truyện thơ từng là món ăn tinh thần quen thuộc ở làng quê, nhiều người không biết chữ vẫn thuộc vài đoạn Truyện Kiều, Lục Vân Tiên.
Về bản chất, truyện thơ là sự kết hợp của hai phương thức. Một mặt nó là truyện, nên phải có cốt truyện với chuỗi sự việc, có nhân vật đi từ đầu đến cuối. Mặt khác nó là thơ, nên lời kể giàu nhạc điệu, có nhiều đoạn nhân vật bộc lộ nỗi lòng, cảnh vật nhuốm tâm trạng. Sách Ngữ văn 11 bộ Kết nối tri thức đặt hẳn một bài học với tên gọi gợi đúng tinh thần ấy: tự sự trong truyện thơ dân gian và trong thơ trữ tình.
Còn truyện thơ Nôm (gọi tắt là truyện Nôm) là dòng truyện thơ viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm. Dòng này hình thành từ khá sớm và nở rộ vào khoảng cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, khi xuất hiện những tác phẩm lớn nhất.
Các nhánh của truyện thơ Việt Nam
Truyện thơ dân gian của các dân tộc thiểu số
Đây là những câu chuyện tình yêu, hôn nhân, số phận được các dân tộc như Thái, Tày… sáng tác và lưu truyền, thường gắn với lối hát kể. Đề tài hay gặp là tình yêu đôi lứa bị ngăn trở bởi lễ giáo, tục ép duyên, khoảng cách giàu nghèo. Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn biên soạn hẳn một bộ tổng tập truyện thơ Nôm của các dân tộc thiểu số, cho thấy kho tàng này lớn đến mức nào.
Truyện thơ Nôm bình dân
Phần lớn khuyết danh, lời lẽ mộc mạc, gần lời ăn tiếng nói hằng ngày. Cốt truyện thường lấy từ cổ tích, thần tích hoặc tích nhà Phật, nói lên mong ước của người lao động: vợ chồng thủy chung, người hiền được đền đáp, kẻ ác bị trừng trị. Có thể kể Thạch Sanh, Tống Trân – Cúc Hoa, Phạm Tải – Ngọc Hoa.
Truyện thơ Nôm bác học
Do nho sĩ có tên tuổi sáng tác, ngôn ngữ trau chuốt, nhiều điển cố và từ Hán Việt. Cốt truyện có khi mượn từ tiểu thuyết Trung Hoa (Truyện Kiều, Hoa tiên), có khi do tác giả tự dựng từ đời sống và từng trải của mình (Truyện Lục Vân Tiên, Sơ kính tân trang). Nếu chia theo thể thơ, phần lớn là lục bát; chỉ một ít truyện viết theo thơ Đường luật và nay còn lại không nhiều.
Ba truyện thơ hay gặp trong sách giáo khoa
Tiễn dặn người yêu là truyện thơ dân gian của dân tộc Thái. Đoạn trích học ở lớp 11 mang tên Lời tiễn dặn trong Ngữ văn 11, là lời chàng trai tiễn người yêu về nhà chồng. Đọc kĩ sẽ thấy phần “truyện” rất mỏng, chỉ đủ dựng ra tình huống chia tay; phần lớn dung lượng là lời nhắn gửi, thề hẹn, tức là chất trữ tình lấn át. Đây là nét rất đặc trưng của truyện thơ dân gian.
Truyện Kiều của Nguyễn Du gồm 3.254 câu lục bát, kể mười lăm năm lưu lạc của Thúy Kiều. Cốt truyện mượn từ một tiểu thuyết Trung Hoa, nhưng cái làm nên giá trị là cách Nguyễn Du miêu tả nội tâm và thiên nhiên. Những đoạn như cảnh chị em Thúy Kiều đi chơi xuân cho thấy truyện thơ có thể dừng mạch kể để vẽ hẳn một bức tranh, xem thêm đoạn trích Cảnh ngày xuân lớp 9.
Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu dài hơn hai nghìn câu lục bát, cốt truyện do tác giả tự xây dựng. Khác với Truyện Kiều, tác phẩm nặng về hành động và đạo lí: người anh hùng trọng nghĩa, kẻ tiểu nhân bội bạc, cuối cùng thiện thắng ác. Lối kể nhanh, lời mộc, rất gần lối nói thơ của người Nam Bộ. Đoạn Vân Tiên đánh cướp được phân tích trong bài soạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga.
Đặc điểm nhận biết truyện thơ
- Có cốt truyện trọn vẹn. Nhiều truyện thơ Nôm đi theo mô hình gặp gỡ – lưu lạc – đoàn tụ: đôi trai gái gặp nhau, bị chia cắt bởi tai họa hay kẻ xấu, cuối cùng sum họp.
- Có nhân vật và người kể chuyện. Người kể thường đứng ngoài, gọi tên nhân vật, dẫn dắt từng chặng; nhân vật được khắc họa qua ngoại hình, hành động, lời nói.
- Lời kể là thơ. Với người Việt, thể quen thuộc nhất là lục bát, vì nhịp của nó rất hợp để kể dài mà không mệt.
- Tự sự xen trữ tình. Có những đoạn nhân vật tự bộc bạch, có những cảnh thiên nhiên mang tâm trạng. Chính chỗ này làm truyện thơ khác truyện cổ tích văn xuôi.
- Kết thúc thường có hậu. Phần lớn truyện thơ khép lại bằng sự đền đáp cho người tốt; điều này phản ánh ước mơ công bằng của người đọc xưa.
Truyện thơ khác thơ trữ tình và truyện kể ra sao?
| Tiêu chí | Truyện thơ | Thơ trữ tình | Truyện văn xuôi |
|---|---|---|---|
| Hình thức lời | Thơ có vần, nhịp | Thơ có vần, nhịp | Văn xuôi |
| Cốt truyện | Có, thường dài và nhiều biến cố | Không bắt buộc, có khi chỉ là một khoảnh khắc | Có |
| Trọng tâm | Số phận nhân vật qua chuỗi sự việc | Cảm xúc của chủ thể trữ tình | Sự việc, nhân vật |
| Ví dụ | Truyện Kiều, Tiễn dặn người yêu | Thu điếu, Qua Đèo Ngang | Thánh Gióng, Tấm Cám |
Một bài thơ trữ tình có thể kể chút ít, một truyện thơ có thể chứa đoạn trữ tình dài. Ranh giới nằm ở chỗ: bỏ cốt truyện đi mà tác phẩm vẫn đứng được thì đó là thơ trữ tình; còn bỏ cốt truyện đi mà tác phẩm sụp đổ thì đó là truyện thơ. Muốn ôn lại đặc điểm nhịp, vần của thể lục bát dùng trong hầu hết truyện Nôm, có thể đọc thêm các thể thơ Việt Nam.
Cũng dùng thể song thất lục bát nhưng không kể một câu chuyện trọn vẹn là thể ngâm khúc, như Chinh phụ ngâm hay Cung oán ngâm khúc.
Câu hỏi luyện tập về truyện thơ
Câu 1: Vì sao Tiễn dặn người yêu được gọi là truyện thơ dù đoạn trích chủ yếu là lời tâm tình?
Đáp án: Vì tác phẩm trọn vẹn có cốt truyện (đôi trai gái yêu nhau, cô gái bị ép gả cho người khác, chàng trai tiễn dặn và giữ lời thề), có nhân vật và người kể. Đoạn trích nằm ở chỗ mạch kể dừng lại cho nhân vật bộc lộ, nên chất trữ tình đậm hơn.
Câu 2: Xếp các tác phẩm sau vào nhóm truyện thơ Nôm bình dân hoặc bác học: Truyện Kiều, Tống Trân – Cúc Hoa, Hoa tiên, Phạm Tải – Ngọc Hoa.
Đáp án: Bình dân: Tống Trân – Cúc Hoa, Phạm Tải – Ngọc Hoa (khuyết danh, lời mộc mạc). Bác học: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Hoa tiên (có tác giả là nho sĩ, lời trau chuốt).
Câu 3: Nêu một điểm khác nhau về nguồn cốt truyện giữa Truyện Kiều và Truyện Lục Vân Tiên.
Đáp án: Truyện Kiều dựa trên cốt truyện của một tiểu thuyết Trung Hoa rồi được Nguyễn Du sáng tạo lại; Truyện Lục Vân Tiên do Nguyễn Đình Chiểu tự xây dựng cốt truyện, gửi vào đó lí tưởng đạo đức của mình.
Câu 4: Điều gì giúp truyện thơ dễ được lưu truyền trong dân gian hơn truyện văn xuôi dài?
Đáp án: Lời thơ có vần, nhịp đều (nhất là lục bát) nên dễ nhớ, dễ thuộc, dễ ngâm kể. Người không biết chữ vẫn có thể nghe và truyền miệng cho nhau.
Một lỗi dễ mắc khi làm bài: gọi Truyện Kiều là “tiểu thuyết”. Trong bài nghị luận nên viết đúng là truyện thơ Nôm, hoặc truyện thơ lục bát, rồi mới bàn đến nghệ thuật tự sự của nó.
Truyện thơ Nôm và truyện thơ dân gian: các ý cần nhớ
Truyện thơ Nôm là gì?
Truyện thơ Nôm là truyện thơ viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm, phần lớn theo thể lục bát. Dòng này nở rộ khoảng cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, với các tác phẩm như Truyện Kiều, Hoa tiên, Truyện Lục Vân Tiên.
Truyện thơ dân gian là gì?
Truyện thơ dân gian là truyện thơ do cộng đồng sáng tác và truyền miệng, tiêu biểu là truyện thơ của các dân tộc thiểu số như Thái, Tày. Đề tài chủ yếu là tình yêu, hôn nhân và khát vọng tự do của con người.
Truyện thơ thường viết theo thể thơ nào?
Với truyện thơ Nôm của người Việt, đó là lục bát, bên cạnh một ít truyện viết theo thơ Đường luật. Truyện thơ các dân tộc thiểu số có thể thơ riêng theo lối hát của từng dân tộc.
Truyện Nôm có phải là truyện thơ Nôm không?
Phải. “Truyện Nôm” là cách gọi tắt của truyện thơ Nôm, nhấn vào việc tác phẩm được ghi bằng chữ Nôm thay vì chữ Hán.