Cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng là đề văn biểu cảm quen thuộc khi học chương trình Ngữ văn 7 cũ (tập một, Bài 15), cùng bài với tùy bút Sài Gòn tôi yêu. Bài viết gồm dàn ý chi tiết và 5 bài văn mẫu, từ ngắn gọn đến học sinh giỏi, giúp em nắm cách bộc lộ cảm xúc về một trang tùy bút đậm chất thơ. Bài học lớp 7 khác được tập hợp trong chuyên mục Ngữ văn lớp 7.
Muốn nhớ lại nguồn gốc đoạn trích, hoàn cảnh ra đời và bố cục, em xem bài Mùa xuân của tôi (Vũ Bằng): tác giả, tác phẩm, bố cục.

Dàn ý cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi
1. Mở bài
– Giới thiệu Vũ Bằng (1913 – 1984), cây bút tùy bút tài hoa gắn bó với Hà Nội, và đoạn trích Mùa xuân của tôi rút từ bài Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt trong tập Thương nhớ mười hai.
– Nêu cảm xúc chung: một trang văn đẹp, thấm đẫm nỗi nhớ quê của người xa xứ.
2. Thân bài
a. Cảm nghĩ về quy luật: con người ai cũng say mê mùa xuân
+ Tác giả đặt tình yêu mùa xuân bên cạnh những cặp gắn bó trong tự nhiên và đời người (non – nước, bướm – hoa, trăng – gió, mẹ – con…).
+ Câu văn dài, nhiều vế lặp, giọng như reo vui mà cũng như tự nhủ.
⇒ Em đồng cảm: ai cũng có một mùa xuân để thương nhớ.
b. Cảm nghĩ về cảnh sắc, không khí xuân đất Bắc
+ Mưa bụi riêu riêu, gió hơi lạnh, rét ngọt; đêm khuya có chim nhạn, xóm xa vọng trống chèo, lời hát huê tình.
+ Sức sống trong lòng người căng đầy, ai cũng muốn yêu thương, muốn sống.
+ Cảnh cả nhà sum họp ngày Tết: bàn thờ, hương trầm, đèn nến, con cháu quây quần.
⇒ Em thấy mùa xuân hiện lên bằng cả âm thanh, hương vị, cảm giác.
c. Cảm nghĩ về mùa xuân sau rằm tháng Giêng
+ Những thay đổi nhỏ: đào phai mà nhụy còn, cỏ thôi mướt mà vẫn thơm, mưa xuân thay mưa phùn, bầu trời hửng sáng.
+ Nhịp sống thường ngày trở lại, bữa cơm giản dị, lòng người thư thái.
⇒ Cảm phục sự tinh tế của người viết.
d. Cảm nghĩ về tình cảm và nghệ thuật
+ Viết khi ở Sài Gòn, xa cách miền Bắc: mùa xuân hiện về từ kí ức, từ nỗi nhớ.
+ Lời văn giàu nhạc điệu, nhiều so sánh, liên tưởng; giọng tha thiết.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị của đoạn trích.
– Liên hệ: tình yêu mùa xuân, yêu quê hương nơi em sinh ra.
Cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi ngắn gọn – mẫu 1
Đọc Mùa xuân của tôi, em có cảm giác như đang được nghe một người xa quê thì thầm kể về những cái Tết của ngày xưa. Trang tùy bút của Vũ Bằng ngắn thôi nhưng đã để lại trong em nhiều rung động.
Tác giả mở đầu bằng một ý rất tự nhiên: con người yêu mùa xuân cũng giống núi non gắn với sông nước, cánh bướm quấn quýt bên hoa. Cách nói ấy khiến em thấy tình yêu mùa xuân không có gì phải giải thích, nó gắn bó với mỗi người như hơi thở. Rồi ông dẫn em về với mùa xuân Hà Nội, có “mưa riêu riêu, gió lành lạnh”, có tiếng trống chèo xa xa, có câu hát của những cô gái làng. Dù chưa từng đón Tết ở Hà Nội, đọc đến đây em vẫn thấy hơi rét ngọt như chạm vào da.
Em thích nhất những dòng tả ngày Tết sum họp. Trong làn khói hương trầm, bên ánh nến, cả nhà quây quần, ai cũng thấy lòng ấm áp. Và khi rằm tháng Giêng qua đi, mùa xuân vẫn còn đó trong những thay đổi rất khẽ của hoa cỏ, bầu trời. Phải tinh tế lắm mới nhìn ra những đổi thay ấy.
Đằng sau từng câu chữ là nỗi nhớ quê da diết của một người đang sống xa Hà Nội. Đọc xong, em càng thêm yêu những ngày xuân bên gia đình và hiểu rằng quê hương là nơi ta luôn muốn trở về.
Phát biểu cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi – mẫu 2
Mùa xuân đã đi vào thơ văn Việt Nam bằng rất nhiều gương mặt. Nhưng có lẽ ít trang viết nào vừa say mê vừa đượm buồn như Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng. Đoạn trích được rút từ bài Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt trong tập tùy bút Thương nhớ mười hai, viết trong những năm Vũ Bằng ở Sài Gòn, cách xa Hà Nội và gia đình bởi đất nước chia cắt. Biết hoàn cảnh ấy, em đọc từng dòng mà thấy lòng mình như chùng xuống.
Mở đầu bài tùy bút, Vũ Bằng không tả cảnh ngay mà nói về một quy luật. Theo ông, yêu mùa xuân là lẽ đương nhiên, như núi non phải thương sông nước, bướm phải thương hoa, trăng phải thương gió. Ông viết: “Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió”. Chuỗi hình ảnh nối tiếp như một dòng chảy, càng đọc càng thấy hợp lí. Em hiểu rằng với tác giả, mùa xuân không phải chuyện thời tiết, mà là một phần tâm hồn con người.
Từ quy luật chung, tác giả trở về với mùa xuân của riêng ông: mùa xuân đất Bắc. Đó là mùa có mưa bụi lất phất, gió hơi lạnh, đêm nghe chim nhạn, có “tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa”, có “câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng”. Cảnh vật được cảm nhận bằng mọi giác quan: mắt nhìn màn mưa, da cảm cái lạnh, tai nghe tiếng chèo, tiếng hát. Em đặc biệt xúc động khi đọc đoạn tả lòng người vào xuân: sức sống trong người căng tràn, ai cũng muốn được yêu thương, muốn được sống trọn vẹn. Mùa xuân không chỉ đến với cây cỏ mà còn đến với tâm hồn.
Bên cạnh đất trời là hơi ấm của mái nhà. Ngày Tết, mọi người trở về đoàn tụ, bàn thờ khói hương nghi ngút, ánh nến lung linh, con cháu sum vầy. Những hình ảnh ấy vừa thiêng liêng vừa ấm cúng. Em chợt nghĩ đến những cái Tết của nhà mình, khi bố mẹ, ông bà quây quần bên mâm cơm tất niên. Có lẽ ở đâu trên đất nước này, Tết cũng là dịp đẹp nhất để người ta nhớ về cội nguồn.
Đến phần cuối, Vũ Bằng tả mùa xuân sau ngày rằm tháng Giêng. Ông nhận ra những đổi thay rất khẽ: hoa đào nhạt màu đi, nhụy thì vẫn còn, cỏ đã bớt mượt mà so với dịp đầu năm, mưa phùn nhường chỗ cho mưa xuân, bầu trời bắt đầu hửng sáng. Cuộc sống trở lại nhịp thường ngày, bữa cơm cũng giản dị trở lại. Đọc đoạn này, em khâm phục con mắt quan sát tỉ mỉ và tâm hồn nhạy cảm của nhà văn.
Mùa xuân của tôi là trang văn đẹp về thiên nhiên và con người miền Bắc, nhưng trên hết là bài ca về tình yêu quê hương của một người con xa xứ. Bài tùy bút giúp em biết trân trọng hơn những mùa xuân đang có và những người thân yêu luôn chờ mình mỗi dịp Tết về.
Cảm nhận về mùa xuân đất Bắc trong bài Mùa xuân của tôi – mẫu 3
Có những mùa xuân chỉ cần nhắc tên đã gợi ra cả một trời thương nhớ. Mùa xuân đất Bắc trong tùy bút của Vũ Bằng là như vậy. Đọc đoạn trích Mùa xuân của tôi, em như được bước vào một bức tranh vừa có màu sắc, vừa có âm thanh, vừa có cả hơi ấm của tình người.
Nét đầu tiên của bức tranh là cái rét. Mùa xuân miền Bắc không nắng chói chang mà mưa bay lất phất, gió se se, cái lạnh chỉ đủ để người ta muốn xích lại gần nhau. Vũ Bằng gọi đó là cái rét ngọt, một cách gọi rất lạ mà đọc lên lại thấy đúng. Ai quanh năm chỉ quen nắng ấm có lẽ khó hình dung hết, nhưng qua trang văn, em vẫn cảm nhận được sự dịu dàng của thời tiết ấy.
Nét thứ hai là âm thanh. Trong đêm có tiếng nhạn, từ những làng xa vọng lại tiếng trống chèo, đâu đó vang lên câu hát của các cô gái. Những âm thanh ấy thuộc về làng quê Bắc Bộ, về lễ hội đầu năm. Chúng làm mùa xuân trở nên rộn ràng mà vẫn trữ tình.
Nét thứ ba, và cũng là nét đẹp nhất, là lòng người. Theo Vũ Bằng, khi xuân về, sức sống trong mỗi người căng lên, ai cũng thấy mình muốn yêu, muốn sống. Ngày Tết, gia đình đoàn tụ, khói hương bay trên bàn thờ tổ tiên, ánh nến ấm áp. Không gian thiêng liêng ấy khiến lòng người lắng lại, biết ơn ông bà và yêu thương nhau hơn.
Sau rằm tháng Giêng, bức tranh nhạt dần nhưng không mất đi. Đào đã phai mà nhụy còn tươi, mưa phùn thôi rơi, bầu trời hửng lên những vệt sáng. Mọi người trở lại với công việc, bữa cơm giản dị thường ngày. Chính những đổi thay nhỏ ấy làm em thấy mùa xuân đất Bắc có chiều sâu, có độ dài của nó.
Bức tranh mùa xuân đất Bắc của Vũ Bằng đẹp vì được vẽ bằng nỗi nhớ. Người viết đang ở rất xa, nên mỗi chi tiết đều được nâng niu như báu vật. Em yêu bức tranh ấy, và mong một lần được đón Tết ở miền Bắc để cảm nhận cái rét ngọt mà nhà văn hằng thương nhớ.
Cảm nghĩ về tùy bút Mùa xuân của tôi (bài học sinh giỏi) – mẫu 4
Có một loại nỗi nhớ không ồn ào, không than khóc, mà lặng lẽ thấm vào từng chữ, từng câu. Đó là nỗi nhớ trong Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng. Viết về mùa xuân Hà Nội khi đang sống giữa Sài Gòn, nhà văn đã biến trang tùy bút thành một cuộc trở về bằng kí ức, và người đọc như em cũng được trở về cùng ông.
Điều em nhận ra trước tiên là cấu trúc cảm xúc rất tự nhiên của bài văn. Tác giả đi từ cái chung đến cái riêng: từ quy luật chung của lòng người với mùa xuân tới mùa xuân của riêng ông, mùa xuân đất Bắc; rồi từ những ngày Tết rộn ràng đến khoảng thời gian sau rằm tháng Giêng lặng lẽ. Mạch văn không theo một khuôn mẫu cứng nhắc mà trôi theo dòng hồi tưởng, lúc dồn dập, lúc chậm rãi. Đó chính là đặc trưng của tùy bút: cảm xúc dẫn đường cho ngòi bút.
Ở phần đầu, Vũ Bằng dùng một chuỗi so sánh để cho thấy say mê mùa xuân là điều tất yếu. Núi và sông, hoa và bướm, gió và trăng, rồi đến những mối gắn bó của con người như mẹ và con, chồng và vợ. Các vế câu nối tiếp nhau như những đợt sóng, tạo nên một giọng văn vừa hùng hồn vừa tha thiết. Em hiểu đây không chỉ là một lập luận, mà là lời tự nhủ của người đang khao khát được trở về với mùa xuân của mình.
Phần thứ hai cho em thấy tài năng của Vũ Bằng trong việc cảm nhận bằng mọi giác quan. Mùa xuân hiện ra qua cái nhìn (màn mưa riêu riêu, đêm xanh), qua làn da (gió lành lạnh, rét ngọt), qua thính giác (chim nhạn đêm khuya, trống chèo, lời hát huê tình), và qua cả những rung động sâu kín của cơ thể khi sức sống căng lên trong mỗi người. Cảnh nhà đoàn tụ êm đềm giữa hương trầm, đèn nến khiến bức tranh thêm ấm. Giữa bao cảm xúc dâng trào, tác giả bật lên một tiếng reo: “Đẹp quá đi, mùa xuân ơi”. Câu cảm thán giản dị mà chứa đựng cả sự say mê lẫn tiếc nuối.
Phần cuối là phần em thấy tinh tế nhất. Sau rằm tháng Giêng, mùa xuân không ồn ã nữa. Đào phai, nhưng nhụy vẫn còn; cỏ không còn mướt, nhưng vẫn thơm; mưa phùn đã nhường chỗ cho mưa xuân; bầu trời đã có những vệt sáng. Con người trở lại với nếp sống hằng ngày, những bữa cơm giản dị. Vũ Bằng không bỏ qua những thay đổi rất nhỏ, như thể ông muốn níu giữ từng ngày xuân, từng khoảnh khắc của quê nhà. Phải thương quê sâu nặng lắm, người ta mới nhớ tỉ mỉ đến thế.
Đọc Mùa xuân của tôi, em hiểu rằng tình yêu quê hương có thể được thể hiện qua những điều rất bình thường: một cơn mưa, một làn gió, một bữa cơm. Em cũng thấm thía nỗi buồn của người phải sống xa quê trong những năm đất nước chia cắt. Bài tùy bút khiến em trân quý những mùa xuân bình yên mình đang có, và biết giữ gìn những phong tục đẹp của ngày Tết cổ truyền.
Cảm nghĩ về nỗi nhớ quê trong bài Mùa xuân của tôi – mẫu 5
Nếu chỉ đọc lướt, ta sẽ nghĩ Mùa xuân của tôi là bài văn tả cảnh mùa xuân. Nhưng khi biết Vũ Bằng viết những dòng ấy giữa Sài Gòn, cách Hà Nội cả một vĩ tuyến chia cắt, em hiểu đây trước hết là một bài văn về nỗi nhớ.
Nỗi nhớ ấy có mặt ngay ở hai chữ “của tôi” trong nhan đề. Mùa xuân ở đây không phải của bất kì ai, mà là mùa xuân rất riêng, thuộc về kí ức của ông. Mỗi chi tiết được nhắc lại, từ cái rét ngọt đến tiếng trống chèo, đều như được lấy ra từ một kho báu cất giữ cẩn thận trong lòng.
Nỗi nhớ còn thể hiện ở sự tỉ mỉ đến lạ lùng. Người đang sống tại chỗ thường không để ý đến những đổi thay nhỏ của hoa cỏ sau rằm tháng Giêng. Còn Vũ Bằng nhớ rõ đào phai thế nào, cỏ thơm ra sao, mưa phùn lúc nào thì tạnh. Càng xa, ông càng nhớ kĩ; càng nhớ kĩ, nỗi nhớ càng sâu.
Cuối cùng, nỗi nhớ bộc lộ qua giọng văn. Có lúc giọng văn reo vui như đang được sống lại ngày xuân, có lúc lại chùng xuống, bồi hồi. Những câu văn dài, nhiều nhịp, như hơi thở của người đang kể chuyện quê với cả tấm lòng.
Đọc xong bài tùy bút, em thấy thương nhà văn và thấm thía hơn giá trị của sự đoàn tụ. Quê hương là nơi ta có thể đi xa, nhưng không bao giờ thôi nhớ về.
Kết luận
Khi viết bài cảm nghĩ về Mùa xuân của tôi, em nên bám ba phần của đoạn trích: quy luật yêu mùa xuân, cảnh sắc và không khí xuân đất Bắc, mùa xuân sau rằm tháng Giêng; đồng thời luôn gắn với hoàn cảnh xa quê của tác giả để cảm xúc có chiều sâu. Chọn vài hình ảnh em thật sự yêu thích để bày tỏ cảm nghĩ riêng.
Xem thêm: