Phân tích Sự giàu đẹp của tiếng Việt của Đặng Thai Mai là đề văn quen thuộc với học sinh lớp 7. Văn bản này có mặt ở chương trình Ngữ văn 7 cũ (tập hai, Bài 21) và nay được Cánh diều chọn làm ngữ liệu đọc ở phần Tự đánh giá khép lại Bài 8 (Ngữ văn 7, tập hai). Dưới đây là dàn ý chi tiết cùng 5 bài văn tham khảo khai thác văn bản theo nhiều hướng. Muốn xem thêm bài học lớp 7, em vào chuyên mục Ngữ văn lớp 7.
Tiểu sử tác giả, nguồn gốc đoạn trích và bố cục có ở bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt (Đặng Thai Mai): tác giả, tác phẩm. Do văn bản vẫn trong thời hạn bảo hộ quyền tác giả, các bài mẫu chỉ dẫn lại vài câu ngắn.

Dàn ý phân tích Sự giàu đẹp của tiếng Việt
1. Mở bài
– Giới thiệu Đặng Thai Mai (1902 – 1984): nhà giáo, nhà nghiên cứu, một trong những trí thức hàng đầu của nền văn hóa mới.
– Giới thiệu đoạn trích: rút từ phần mở đầu công trình Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc (1967); vấn đề bàn luận: vẻ đẹp và sự phong phú của tiếng mẹ đẻ.
2. Thân bài
a. Luận điểm chung và lời giải thích
+ Người Việt có đủ lí do để tin và tự hào về ngôn ngữ dân tộc; tiếng Việt đẹp mà cũng rất hay.
+ Đẹp: âm thanh nhịp nhàng, các thanh trầm bổng hòa hợp, câu văn mềm mại; hay: nói được mọi cung bậc cảm xúc, mọi ý nghĩ, theo sát nhu cầu văn hóa của người Việt trong suốt chiều dài lịch sử.
b. Luận cứ cho cái đẹp
+ Khách nước ngoài nghe người Việt nói đã thấy tiếng ta như có nhạc; một giáo sĩ nước ngoài thạo tiếng ta khen lối nói rõ ràng, câu cú mềm mại.
+ Tác giả tỉnh táo: đó mới là cảm nhận của người nghe; cơ sở khoa học nằm ở kho nguyên âm và phụ âm dồi dào, các thanh điệu cao thấp đan xen.
c. Luận cứ cho cái hay
+ Vốn từ không ngừng được bồi đắp; cách đặt câu mỗi ngày một linh hoạt, rõ nghĩa.
+ Khả năng tự sinh ra từ ngữ mới khi đời sống cần ⇒ minh chứng cho sức sống của cả dân tộc.
d. Nghệ thuật
+ Lập luận theo trình tự nêu – giải thích – chứng minh; luận cứ bao quát ba mặt âm thanh, từ vựng, ngữ pháp; phối hợp lời nhận xét của người ngoài với phân tích của nhà khoa học; lối viết câu dài, nhiều tầng mà vẫn sáng rõ.
3. Kết bài
– Đánh giá giá trị văn bản; bày tỏ lòng tự hào, đồng thời tự nhắc mình phải giữ gìn tiếng mẹ đẻ.
Phân tích Sự giàu đẹp của tiếng Việt ngắn gọn – mẫu 1
Mỗi dân tộc đều có một tiếng nói làm nên bản sắc của mình. Với người Việt, đó là thứ tiếng mà nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai đã trân trọng bàn đến trong đoạn trích Sự giàu đẹp của tiếng Việt, rút từ công trình Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc.
Ngay phần đầu, tác giả cho rằng chúng ta có đủ cơ sở để tin tưởng vào tiếng nói dân tộc, rồi nêu nhận định bao quát: “Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay”. Ông nói rõ thế nào là đẹp, thế nào là hay: đẹp nhờ âm thanh nhịp nhàng, câu văn mềm mại; hay nhờ nói được mọi điều người Việt muốn bày tỏ.
Ở phần chứng minh cái đẹp, tác giả nhắc đến cảm nhận của những vị khách phương xa: chỉ cần nghe thôi, họ đã thấy tiếng ta giống như đang hát. Nhưng ông không dừng lại ở cảm nhận ấy. Ông chỉ ra cơ sở thật sự: tiếng Việt có nhiều nguyên âm, phụ âm, lại có nhiều thanh lên xuống, nên lời nói tự nhiên đã trầm bổng.
Ở phần chứng minh cái hay, tác giả cho thấy vốn từ của ta không ngừng nhiều thêm, cách đặt câu mỗi lúc một linh hoạt, đủ sức theo kịp những đòi hỏi mới của cuộc sống.
Bằng cách lập luận mạch lạc và luận cứ toàn diện, văn bản khiến người đọc tin vào vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ. Đọc xong, em tự nhủ phải nói và viết tiếng Việt cho thật chuẩn, thật hay.
Phân tích văn bản Sự giàu đẹp của tiếng Việt của Đặng Thai Mai – mẫu 2
Đã có những thời kì dài, tiếng nói của ông cha ta phải đứng bên cạnh chữ Hán, rồi tiếng Pháp, trong vai trò thứ yếu. Vậy mà tiếng Việt chẳng những không mất đi mà còn ngày càng phong phú. Sức sống bền bỉ ấy đã được Đặng Thai Mai, một nhà nghiên cứu uyên bác, làm sáng tỏ trong công trình Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc. Phần mở đầu của công trình, được người soạn sách đặt tên Sự giàu đẹp của tiếng Việt, là một mẫu mực của văn nghị luận bàn về tiếng mẹ đẻ.
Văn bản mở ra bằng một lời khẳng định đầy tin tưởng: người Việt hôm nay có lí do chính đáng để tự hào về ngôn ngữ của dân tộc. Từ đó, tác giả nêu nhận định bao trùm toàn bài. Ông không để nhận định ấy chung chung mà giải thích ngay. Cái đẹp của tiếng Việt nằm ở sự cân xứng, nhịp nhàng của âm thanh và sự mềm mại, tinh tế của câu văn. Cái hay nằm ở khả năng nói lên được mọi điều trong tâm hồn và trí tuệ người Việt, theo kịp nhu cầu văn hóa của cộng đồng qua mọi chặng lịch sử. Lời giải thích ngắn mà bao quát, giúp người đọc nắm được vấn đề trước khi đi vào phần chứng minh.
Phần chứng minh cái đẹp được triển khai khéo léo. Tác giả không vội đưa ra lí lẽ khoa học mà bắt đầu bằng cảm nhận của người ngoài. Nhiều người ngoại quốc khi nghe người dân ta trò chuyện đã cho rằng “tiếng Việt là một thứ tiếng giàu chất nhạc”. Một giáo sĩ nước ngoài thạo tiếng ta còn khen tiếng Việt “rất rành mạch trong lối nói, rất uyển chuyển trong câu kéo, rất ngon lành trong những câu tục ngữ”. Những lời khen ấy có giá trị vì đến từ người không có lí do để thiên vị. Tuy vậy, Đặng Thai Mai không dừng ở đó. Ông thừa nhận những vị khách ấy không hiểu tiếng ta, nên điều họ nói mới chỉ là cảm giác của tai nghe. Muốn thuyết phục, phải đi vào cấu tạo của ngôn ngữ: kho nguyên âm và phụ âm dồi dào, các thanh điệu cao thấp xen nhau làm lời nói trầm bổng tựa một bản nhạc. Lối lập luận đi từ cảm tính đến lí tính như vậy cho thấy thái độ nghiêm túc của một nhà khoa học.
Phần chứng minh cái hay dựa vào từ vựng và ngữ pháp. Theo tác giả, qua mỗi giai đoạn phát triển, vốn từ tiếng Việt lại được bồi đắp thêm; cách đặt câu cũng mỗi ngày một linh hoạt, rõ nghĩa hơn. Đặc biệt, khi đời sống xuất hiện những điều mới, tiếng Việt có thể tự đặt ra từ ngữ, cách nói mới để gọi tên, chứ không thụ động vay mượn. Một ngôn ngữ biết tự làm giàu cho mình như thế là bằng chứng hùng hồn cho sức sống của người nói ngôn ngữ ấy.
Về nghệ thuật, văn bản có bố cục mạch lạc theo trình tự nêu vấn đề, giải thích, chứng minh. Luận cứ được chọn lọc, bao quát ba mặt của ngôn ngữ là âm thanh, từ ngữ và câu. Câu văn của Đặng Thai Mai thường dài, nhiều vế, song vẫn sáng sủa; lời văn mang tính khoa học mà vẫn thấm đẫm niềm tự hào.
Sự giàu đẹp của tiếng Việt không chỉ mở rộng hiểu biết của em về tiếng mẹ đẻ mà còn khơi dậy lòng yêu quý và ý thức bảo vệ nó. Em hiểu rằng mỗi lời mình nói, mỗi trang mình viết đều cần được trau chuốt để xứng với một ngôn ngữ giàu đẹp như vậy.
Phân tích cách lập luận trong Sự giàu đẹp của tiếng Việt – mẫu 3
Một bài nghị luận có sức thuyết phục không chỉ nhờ ý kiến đúng mà còn nhờ cách sắp xếp lí lẽ hợp lí. Sự giàu đẹp của tiếng Việt của Đặng Thai Mai là một ví dụ tiêu biểu cho điều đó.
Trước hết, văn bản đi theo một trình tự rõ ràng: nêu vấn đề, giải thích, chứng minh. Tác giả đưa ra nhận định trung tâm, làm rõ hai khái niệm đẹp và hay, rồi mới lần lượt chứng minh. Nhờ có bước giải thích, người đọc biết trước tác giả sẽ đi đến đâu, không bị lạc giữa những câu văn dài.
Thứ hai, các luận cứ được chọn và xếp hợp lí. Để nói tiếng Việt đẹp, tác giả đi từ cảm nhận bên ngoài của người nghe đến bản chất bên trong là cấu tạo âm thanh. Để nói tiếng Việt hay, ông bàn đến vốn từ, cách đặt câu và khả năng tạo từ ngữ mới. Ba phương diện âm thanh, từ vựng, ngữ pháp gần như phủ kín những gì làm nên một ngôn ngữ, nên lời khẳng định của ông rất có sức nặng.
Thứ ba, tác giả rất khách quan khi dùng dẫn chứng. Ông nêu lời khen của người ngoài, nhưng cũng thẳng thắn chỉ ra giới hạn của lời khen ấy, vì người nói không hiểu tiếng ta. Sự tỉnh táo ấy giúp văn bản không rơi vào lối ca ngợi chung chung mà đứng vững trên nền tảng khoa học.
Thứ tư, ngôn ngữ của văn bản vừa chính xác vừa giàu cảm xúc. Các thuật ngữ chuyên môn về ngữ âm, ngữ pháp được dùng đúng chỗ. Câu văn dài với nhiều thành phần phụ vẫn mạch lạc. Đằng sau lời lẽ khoa học là tấm lòng của một người con yêu tiếng nói dân tộc.
Nhờ cách lập luận ấy, đoạn trích tuy ngắn mà vẫn khiến người đọc tin vào vẻ đẹp của tiếng Việt. Em cũng rút ra cho mình bài học khi viết văn nghị luận: ý kiến phải rõ, lí lẽ phải vững, dẫn chứng phải xác đáng và được sắp xếp có chủ đích.
Phân tích Sự giàu đẹp của tiếng Việt (bài học sinh giỏi) – mẫu 4
Có một chân lí giản dị: yêu đất nước bắt đầu từ việc yêu tiếng nói của dân tộc mình. Thế nhưng, vì sao tiếng Việt đáng để ta tự hào? Đặng Thai Mai đã trả lời câu hỏi ấy không bằng những lời tán dương cảm tính, mà bằng một đoạn văn nghị luận vừa chặt chẽ vừa thấm đượm tình cảm: Sự giàu đẹp của tiếng Việt.
Điều em nhận ra trước tiên là cách tác giả đặt vấn đề. Ông không mở đầu bằng lời ca tụng, mà nói rằng người Việt hôm nay có đủ cơ sở để tin vào ngôn ngữ của dân tộc. Niềm tin ấy cần được chứng minh, vì vậy ông nêu nhận định trung tâm và lập tức giải thích. Tiếng Việt đẹp ở hai mặt: âm thanh hài hòa và câu văn mềm mại. Tiếng Việt hay ở chỗ bày tỏ được mọi rung động, mọi ý nghĩ, và đồng hành cùng đời sống văn hóa dân tộc qua bao biến cố. Khái niệm được làm rõ ngay từ đầu, nên phần sau triển khai rất mạch lạc.
Ở phần chứng minh cái đẹp, em đặc biệt thích cách tác giả đi từ cảm nhận đến khoa học. Ông dẫn ý kiến của những vị khách nước ngoài: chỉ nghe người Việt nói, họ đã thấy tiếng ta đầy nhạc tính. Ông dẫn thêm lời một giáo sĩ nước ngoài thạo tiếng ta, khen tiếng Việt rõ ràng trong lời nói, mềm mại trong câu cú, đậm đà trong tục ngữ. Ngay sau đó, nhà nghiên cứu lại tự đặt giới hạn cho những dẫn chứng ấy: họ không hiểu tiếng ta, đó chỉ là cảm giác của người nghe. Một người viết thiếu tỉnh táo dễ dừng lại ở lời khen của người ngoài; Đặng Thai Mai thì không. Ông đi sâu vào cấu tạo âm thanh, chỉ ra kho nguyên âm, phụ âm dồi dào và các thanh điệu cao thấp đan xen. Vì thế, kết luận của ông có sức nặng: tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ giàu hình tượng về âm thanh, lên xuống nhịp nhàng như một khúc nhạc. Em nghĩ đến những câu ca dao, những làn điệu dân ca quen thuộc, và hiểu vì sao thơ ca Việt Nam lại giàu nhạc tính đến vậy.
Phần chứng minh cái hay cũng thuyết phục không kém. Theo tác giả, kho từ ngữ tiếng Việt không đứng yên mà mỗi thời mỗi dày thêm; cách đặt câu cũng ngày một linh hoạt, chuẩn xác. Đặc biệt, khi đời sống, khoa học, kĩ thuật cần những từ mới, tiếng Việt có thể tự tạo ra để đáp ứng. Một ngôn ngữ biết tự làm giàu mình như vậy chính là tiếng nói của một dân tộc có sức sống mạnh mẽ. Ở đây, tác giả đã gắn chuyện ngôn ngữ với vận mệnh dân tộc, khiến văn bản có chiều sâu lịch sử và văn hóa.
Về hình thức, đoạn trích tiêu biểu cho lối viết nghị luận của Đặng Thai Mai: lí lẽ chặt, dẫn chứng toàn diện, câu văn dài nhiều tầng bậc mà vẫn rõ ràng. Lời văn chính xác như của nhà khoa học, song vẫn thấp thoáng niềm tự hào và tình yêu của tác giả đối với tiếng mẹ đẻ.
Đọc Sự giàu đẹp của tiếng Việt, em chợt nghĩ đến chuyện hôm nay: không ít bạn trẻ nói chêm tiếng nước ngoài, viết tắt tùy tiện, dùng từ lệch chuẩn trên mạng xã hội. Văn bản như lời nhắc rằng tiếng Việt đã được cha ông gìn giữ qua bao thế hệ, và trách nhiệm của chúng em là tiếp tục giữ cho tiếng nói ấy trong sáng, giàu đẹp.
Phân tích luận điểm tiếng Việt đẹp trong văn bản – mẫu 5
Trong Sự giàu đẹp của tiếng Việt, Đặng Thai Mai dành một phần quan trọng để làm sáng tỏ vẻ đẹp âm thanh của tiếng Việt. Luận điểm này được triển khai qua nhiều lớp lí lẽ, dẫn chứng, cho thấy sự công phu của người viết.
Trước hết, tác giả xác định cái đẹp của tiếng Việt nằm ở sự nhịp nhàng của âm thanh, sự cân xứng giữa các thanh điệu và cách sắp xếp câu mềm mại, tế nhị. Đây không phải vẻ đẹp nhìn thấy bằng mắt mà là vẻ đẹp nghe bằng tai và cảm bằng lòng.
Tiếp đó, ông đưa ra dẫn chứng từ cảm nhận của người nước ngoài. Họ không hiểu nghĩa từng lời, nhưng chỉ cần nghe đã thấy tiếng Việt như có nhạc. Một người nước ngoài thạo tiếng ta còn nhận ra sự rõ ràng, mềm mại của tiếng Việt trong lời nói và tục ngữ. Những lời ấy mang tính khách quan, vì đến từ người không có lí do để thiên vị.
Tuy nhiên, Đặng Thai Mai không tuyệt đối hóa những cảm nhận ấy. Ông chuyển sang phân tích cấu tạo của tiếng Việt: nhiều nguyên âm, nhiều phụ âm, lại có thanh cao, thanh thấp, tiếng bằng, tiếng trắc đan xen. Chính cấu tạo ấy làm lời nói của người Việt trầm bổng, nhịp nhàng. Từ cảm tính, lập luận đã có nền tảng khoa học vững chắc.
Em có thể tìm thấy minh chứng cho vẻ đẹp ấy ở khắp nơi: trong lời ru của mẹ, trong câu hò trên sông, trong những câu lục bát đọc lên đã thấy du dương. Luận điểm của Đặng Thai Mai vì vậy không xa lạ mà rất gần gũi với mỗi người Việt.
Qua phần chứng minh này, em càng thấy tự hào vì được nói, được viết bằng một ngôn ngữ giàu nhạc tính. Đó cũng là động lực để em học tốt môn Ngữ văn và biết nói năng, viết lách sao cho đẹp.
Kết luận
Khi phân tích Sự giàu đẹp của tiếng Việt, em nên đi theo trình tự lập luận của tác giả: nhận định chung và lời giải thích; luận cứ cho cái đẹp (cảm nhận của người nước ngoài, cấu tạo âm thanh); luận cứ cho cái hay (vốn từ, cách đặt câu, khả năng tạo từ mới); sau đó đánh giá nghệ thuật nghị luận và nêu ý thức bảo vệ tiếng mẹ đẻ của bản thân.
Xem thêm: