Pa-ra-na là đoạn trích từ cuốn Nhiệt đới buồn của nhà nhân học người Pháp Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt, văn bản đọc đầu tiên của Bài 8 (chủ đề: dữ liệu của văn bản thông tin), Ngữ văn 12 Kết nối tri thức tập hai. Bài viết tổng hợp tác giả, xuất xứ, thể loại, bố cục, nội dung, nghệ thuật và sơ đồ tư duy của văn bản.
Nội dung văn bản Pa-ra-na
Đoạn trích ghi lại cuộc gặp đầu tiên giữa tác giả và người Anh điêng ở vùng sông Ti-ba-gi (bang Pa-ra-na, nam Bra-xin), khi ông theo một viên chức của cơ quan bảo vệ người Anh điêng đi kiểm tra.

- Lịch sử của người Giê: từ thời người châu Âu tìm ra vùng đất này, người Giê đã bị người Tu-pi dồn ép; họ trụ lại được trong những vùng khó vào, nhưng nhiều thế kỉ liền bị săn đuổi, đến khoảng năm 1914 phần lớn được đưa vào khu định cư.
- Cuộc “khai hóa” bất thành: chính quyền dựng xưởng, trường, hiệu thuốc, phát dụng cụ và quần áo; hai mươi năm sau thì bỏ cuộc. Người Anh điêng chỉ giữ vài thứ hữu ích, còn lại vẫn sống theo nếp cũ: ở ngoài trời, sống du cư, ngủ dưới đất, không ăn thịt và sữa bò, giã gạo bằng tay.
- Suy ngẫm của nhà dân tộc học: thoạt đầu tác giả thất vọng vì không gặp những người hoang dã “thực thụ”, nhưng rồi nhận ra chính họ giúp ông biết dè dặt, khách quan hơn; nền văn hóa pha trộn của họ cũng đáng nghiên cứu.
- Sự trở lại của lối sống cổ xưa: khi bị bỏ mặc, kĩ thuật truyền thống hồi sinh: chày đá mài nhẵn nằm giữa đồ dùng hiện đại, khoan gỗ lấy lửa thay diêm, cung tên thay súng. Lối sống cũ lặng lẽ tìm lại đường đi của mình.
Bản dịch tiếng Việt còn trong thời hạn bảo hộ nên bài chỉ tóm lược nội dung; em đọc toàn văn trong SGK.
Thông tin tác giả Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt
Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt (tên Pháp: Lévi-Strauss) sinh năm 1908, mất năm 2009, là nhà khoa học người Pháp nghiên cứu nhân học, dân tộc học và triết học, được xem là cha đẻ của nhân học cấu trúc. Ông sống gần trọn một thế kỉ và là một trong những gương mặt trí thức lớn nhất của nước Pháp thế kỉ XX.
Những năm 1935 – 1939, ông dạy học ở Bra-xin và thực hiện nhiều chuyến khảo sát thực địa tới các tộc người bản địa. Những trải nghiệm ấy về sau được ông viết lại trong Nhiệt đới buồn.
Các công trình của ông mở rộng sang nhiều lĩnh vực: thân tộc, huyền thoại, tư duy của các dân tộc tiền công nghiệp. Ông phản đối việc coi văn minh phương Tây là duy nhất đúng, đề cao sự phong phú của các nền văn hóa, sớm cảnh báo nguy cơ con người tàn phá thiên nhiên. Tác phẩm tiêu biểu: Những cấu trúc sơ đẳng về thân tộc (1949), Chủng tộc và lịch sử (1952), Nhiệt đới buồn (1955), Nhân loại học cấu trúc (1958), Tư tưởng hoang dã (1962).
Thông tin tác phẩm Pa-ra-na
Xuất xứ đoạn trích Pa-ra-na
Văn bản trích từ cuốn Nhiệt đới buồn (bản gốc tiếng Pháp in năm 1955). SGK sử dụng bản dịch của Ngô Bình Lâm (NXB Tri thức ấn hành năm 2009), các trang 156 – 158. Nhiệt đới buồn vừa là hồi kí, du kí, vừa là những trang khảo tả dân tộc học và suy tưởng triết học về những tộc người bản địa ở Nam Mỹ.
Pa-ra-na viết theo thể loại nào?
Đây là văn bản thông tin, cụ thể là những trang khảo tả dân tộc học có yếu tố du kí. Thông tin được truyền đạt qua trải nghiệm trực tiếp của người viết.
Phương thức biểu đạt và ngôi kể
Kết hợp thuyết minh (cung cấp dữ liệu lịch sử, tập quán), tự sự (kể chuyến đi, những gì quan sát thấy) và nghị luận, biểu cảm (suy ngẫm, đánh giá). Người kể xưng “tôi”, chính là tác giả.
Bố cục văn bản Pa-ra-na có mấy phần?
Có thể chia văn bản làm 3 phần:
- Phần 1 (hai đoạn đầu): chuyến đi tới vùng Ti-ba-gi và lịch sử bị xua đuổi của người Giê.
- Phần 2 (hai đoạn tiếp theo): nỗ lực đưa người Anh điêng vào đời sống hiện đại và sự thất bại của nó.
- Phần 3 (phần còn lại): nhận thức mới của tác giả và sự hồi sinh của lối sống, kĩ thuật cổ truyền.
Giá trị nội dung
- Đem đến những hiểu biết xác thực về cuộc đời người Anh điêng ở nam Bra-xin: bị xâm lược, săn đuổi, rồi bị áp đặt một lối sống xa lạ.
- Chỉ ra sự thất bại của kiểu văn minh hóa cưỡng ép và sức sống bền bỉ của văn hóa bản địa.
- Gửi gắm thông điệp tôn trọng sự khác biệt, bảo vệ đa dạng văn hóa, phản đối tư tưởng coi một nền văn minh là trung tâm.
Giá trị nghệ thuật
- Kết hợp hài hòa dữ liệu sơ cấp (quan sát tận mắt) và thứ cấp (tư liệu lịch sử).
- Chi tiết chọn lọc, giàu sức gợi; nhiều cặp đối lập giữa điều chính quyền làm và điều người Anh điêng thực sự sống.
- Người kể xưng “tôi” vừa khách quan vừa bộc lộ suy tư, giúp văn bản thông tin trở nên gần gũi, sâu sắc.
- Giọng văn điềm tĩnh, đôi chỗ mỉa mai kín đáo.
Ý nghĩa nhan đề Pa-ra-na
Pa-ra-na là tên một bang ở miền nam Bra-xin, nơi diễn ra chuyến đi và cuộc gặp gỡ trong đoạn trích. Nhan đề lấy địa danh làm tên gọi, đúng với tính chất ghi chép thực địa của văn bản, đồng thời khoanh vùng không gian văn hóa mà tác giả quan sát.
Sơ đồ tư duy Pa-ra-na

Lời kết
Pa-ra-na không chỉ cung cấp hiểu biết về một tộc người xa xôi mà còn đặt ra câu hỏi lớn về quan hệ giữa các nền văn hóa. Nắm chắc tác giả, xuất xứ, bố cục và cách dùng dữ liệu của văn bản sẽ giúp em học tốt Bài 8 và các văn bản thông tin khác.
Xem thêm: