Nhân học là ngành khoa học nghiên cứu con người một cách tổng thể: con người tiến hóa ra sao về mặt sinh học, sống thành cộng đồng thế nào, nói năng, cúng bái, làm ăn, cưới xin theo những nếp văn hóa gì. Ngành nhân học, còn gọi là nhân loại học (tiếng Anh anthropology), thuộc khối khoa học xã hội và nhân văn.
| Nghĩa | Khoa học nghiên cứu con người trong cả quá khứ lẫn hiện tại, từ thân thể đến văn hóa |
| Tên khác | Nhân loại học; tiếng Anh anthropology |
| Phân ngành chính | Nhân học hình thể (sinh học), văn hóa – xã hội, ngôn ngữ, khảo cổ học |
| Cách làm đặc trưng | Điền dã: sống cùng cộng đồng, quan sát, phỏng vấn trong thời gian dài |

Nhân học nhìn con người từ những phía nào?
Nếu xã hội học hay chú ý đến các nhóm lớn trong xã hội đương thời, thì nhân học tham hơn: nó muốn hiểu con người ở mọi nơi, mọi thời. Wikipedia tiếng Việt và các bách khoa nước ngoài đều chia ngành này thành bốn nhánh lớn:
- Nhân học hình thể (hay nhân học sinh học): xương cốt, tiến hóa, sự đa dạng về cơ thể người.
- Nhân học văn hóa – xã hội: phong tục, gia đình, tín ngưỡng, sinh kế của từng cộng đồng.
- Nhân học ngôn ngữ: tiếng nói ảnh hưởng tới cách người ta nghĩ và sống ra sao.
- Khảo cổ học: đọc đời sống người xưa qua đồ vật, mộ táng, dấu tích để lại.
Về sau còn mọc thêm nhiều nhánh ứng dụng: nhân học y tế, nhân học đô thị, nhân học giáo dục, nhân học phát triển… Điểm chung của tất cả là cách làm việc. Nhà nhân học không chỉ ngồi đọc số liệu; họ đến ở cùng làng, ăn cùng mâm, dự đám cưới, đám giỗ, ghi chép tỉ mỉ điều mắt thấy tai nghe. Lối làm ấy gọi là điền dã, hay quan sát tham dự.
Ở Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ở cả Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đều có khoa Nhân học. Sinh viên được đưa đi thực địa ở bản làng, khu phố từ năm học đầu, khác hẳn hình dung “học xã hội là học thuộc”.
Anthropos, logos và chữ 人類學
Từ tiếng Anh anthropology ghép từ hai gốc Hy Lạp: ánthrōpos (con người) và -logía (lời bàn, môn học). Người Trung Quốc và Nhật dịch là 人類學, đọc theo âm Hán Việt là nhân loại học: nhân (người) + loại (loài) + học (môn học). Tiếng Việt rút gọn lại thành nhân học, dù tên đầy đủ vẫn còn thấy trong sách và trên Wikipedia.
Cái tên ngắn hơn nhưng dễ gây hiểu lầm. Nghe “nhân học”, nhiều bạn đoán là ngành dạy làm người, hoặc học về đạo đức. Thật ra chữ nhân ở đây là chữ 人 (người), không phải chữ 仁 (lòng nhân) trong nhân ái, nhân nghĩa.
Văn học là nhân học nghĩa là sao?
Học sinh hay gặp chữ này lần đầu không phải ở trường đại học mà trong một câu quen của giờ văn: “văn học là nhân học”. Câu ấy dùng chữ nhân học theo nghĩa rộng: văn chương là một cách tìm hiểu con người, hiểu tâm hồn, số phận, những điều người ta khao khát. Một truyện ngắn hay cho người đọc biết về đời sống một cộng đồng không kém gì một công trình điền dã.
Câu nói này có nguồn gốc và cách hiểu riêng, đã được giải thích trong bài câu văn học là nhân học do ai nói. Điều cần nhớ khi viết bài nghị luận: ở đây “nhân học” mang nghĩa ví von, không có nghĩa văn học là một ngành của khoa học nhân học.
Nhân học khác xã hội học, dân tộc học, nhân chủng học ra sao?
| Ngành | Trọng tâm | Ví dụ đề tài |
|---|---|---|
| Nhân học | Con người toàn diện, so sánh giữa các nền văn hóa, coi trọng điền dã lâu dài | Tục ăn trầu của một làng ven biển thay đổi thế nào |
| Xã hội học | Các nhóm, thiết chế, quan hệ trong xã hội, hay dùng khảo sát và thống kê | Tỉ lệ thanh niên rời quê lên thành phố |
| Dân tộc học | Đời sống, văn hóa của các tộc người; ở Việt Nam là tên gọi quen thuộc trước khi chữ nhân học phổ biến | Nhà sàn và lễ mừng cơm mới của một dân tộc |
| Nhân chủng học | Tên gọi cũ, nghiêng về đặc điểm cơ thể, nguồn gốc giống người | So sánh hình dáng sọ người cổ |
| Nhân khẩu học | Dân số: quy mô, cơ cấu tuổi, giới, di cư | Dân số già đi nhanh ra sao |
Ranh giới giữa các ngành không cứng: một nhà nhân học có thể dùng số liệu của ngành thống kê dân số, và nhiều đề tài nằm chung với xã hội học, ngành học về nhóm người. Còn nhân văn là một chữ khác hẳn, chỉ những giá trị hướng về con người, đừng viết lẫn “khoa nhân văn” với “khoa nhân học” khi điền hồ sơ.
Ngành nhân học dưới mắt người sắp chọn trường
Ngành nhân học là gì và học những gì?
Là ngành đào tạo cử nhân nghiên cứu con người và văn hóa. Sinh viên học lý thuyết nhân học, lịch sử văn hóa, phương pháp phỏng vấn, quan sát, nghiên cứu định tính và định lượng, rồi đi thực địa ở các cộng đồng.
Học nhân học ra trường làm gì?
Có thể làm nghiên cứu ở viện, trường; làm cho bảo tàng, cơ quan văn hóa, du lịch; làm dự án phát triển cộng đồng của tổ chức trong và ngoài nước; hoặc làm nghiên cứu người dùng cho doanh nghiệp.
Nhân học tiếng Anh là gì?
Là anthropology; nhà nhân học là anthropologist. Nhân học văn hóa là cultural anthropology, nhân học sinh học là biological anthropology.
Nhân học có phải là triết học về con người không?
Không hẳn. Triết học bàn về con người bằng suy tư trừu tượng, còn nhân học là khoa học thực nghiệm, dựa trên dữ liệu thu từ thực địa, hiện vật và quan sát.