Soạn bài Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử theo SGK Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập hai, Bài 10 Tiếng vọng những ngày qua, văn bản 2, trang 123–125. Bài soạn gồm câu hỏi Chuẩn bị đọc, hai gợi ý Trải nghiệm cùng văn bản và tám câu hỏi Suy ngẫm và phản hồi.
Nếu bạn học bộ Kết nối tri thức (lớp 10), hãy xem Soạn bài Mùa xuân chín – Kết nối tri thức, Ngữ văn 10.
Chuẩn bị đọc – soạn bài Mùa xuân chín CTST (trang 123)
Câu hỏi khởi động mời em tìm một chữ để gọi tên mùa xuân – trước khi gặp chữ “chín” độc đáo của Hàn Mặc Tử.

Câu 1 (trang 123): Chọn một tính từ khái quát đúng nhất đặc tính của mùa xuân
Nếu cần chọn một tính từ có thể khái quát đúng nhất đặc tính của mùa xuân, em sẽ chọn từ nào? Hãy chia sẻ với các bạn lí do lựa chọn của mình.
Trả lời (gợi ý): Em chọn từ “tươi”. Mùa xuân là lúc cây cối đâm chồi nảy lộc, lá non xanh mơn mởn, hoa đua nở, mưa phùn làm mọi thứ như được rửa sạch; con người cũng tươi vui trong không khí Tết, bắt đầu một năm mới với nhiều hi vọng. “Tươi” vừa nói được sức sống của thiên nhiên vừa nói được tâm trạng của con người khi xuân về.
Trải nghiệm cùng văn bản – gợi ý khi đọc Mùa xuân chín (trang 124)
Câu 1 (trang 124): Tưởng tượng – bức tranh thiên nhiên và con người trong ba khổ đầu
Trả lời: Em hình dung một làng quê buổi sớm xuân: nắng ửng hồng xua tan làn khói mỏng, mái nhà tranh lấm tấm sắc vàng, gió khẽ đùa tà áo xanh, giàn thiên lí đón bóng xuân. Xa hơn là đồi cỏ xanh trải tới chân trời, các cô gái quê vừa làm vừa hát, tiếng hát vắt vẻo lưng chừng núi, thì thầm như lời nước mây. Thiên nhiên tươi sáng, rộn ràng; con người trẻ trung, hồn nhiên, tràn đầy sức sống.
Câu 2 (trang 124): Suy luận – hình ảnh ở khổ cuối là hiện tại hay quá khứ?
Trả lời: Khổ cuối mở đầu bằng thời điểm hiện tại (“khách xa gặp lúc mùa xuân chín”), nhưng những gì người khách nghĩ tới lại thuộc về quá khứ: làng cũ, người chị năm xưa gánh thóc dọc bờ sông nắng. Hiện tại khơi dậy kỉ niệm, nên hình ảnh trong khổ thơ là sự đan xen giữa hiện tại và quá khứ, với câu hỏi day dứt không biết người xưa nay còn như thế.
Suy ngẫm và phản hồi – trả lời câu hỏi Mùa xuân chín (trang 124–125)
Tám câu hỏi trong SGK Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo tập hai:
Câu 1 (trang 124): Bức tranh xuân ở khổ thứ nhất quen thuộc hay mới lạ?
Theo cảm nhận của em, bức tranh thiên nhiên mùa xuân của làng quê Việt Nam được gợi tả trong khổ thơ thứ nhất là quen thuộc hay mới lạ? Vì sao?
Trả lời: Theo em, bức tranh có cả nét quen và nét lạ.
- Quen thuộc: hình ảnh nắng, khói, mái nhà tranh, giàn thiên lí, tà áo – những chi tiết bình dị của làng quê Việt Nam ai cũng từng thấy.
- Mới lạ: cách cảm nhận và diễn tả của nhà thơ: khói “mơ tan” như tan trong giấc mơ; mái tranh “lấm tấm vàng” dưới nắng; gió biết “trêu” tà áo; đặc biệt câu thơ bị ngắt đôi bằng dấu chấm để “Bóng xuân sang” đứng riêng, như mùa xuân bất ngờ hiện hình. Mùa xuân vốn vô hình trở nên có hình, có bóng, có bước đi.
Câu 2 (trang 124): Hai dòng “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy / Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…” là lời của ai, thể hiện quan niệm gì?
Trả lời: Hai dòng thơ thuộc về người đang ngắm cảnh (chủ thể trữ tình, về sau xưng là “khách xa”), xen vào giữa cảnh các cô gái hát trên đồi. Hai dòng thơ thể hiện một dự cảm: tuổi xuân rồi sẽ qua, sẽ có người lấy chồng, rời bỏ những ngày vui tươi. Đó là quan niệm về quy luật đổi thay tất yếu của đời người, như mùa xuân đến rồi đi; thái độ vừa chấp nhận vừa bâng khuâng, nuối tiếc.
Câu 3 (trang 125): Tác dụng của từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, biện pháp tu từ trong ba khổ đầu
Trả lời:
| Khổ | Đặc sắc hình thức | Tác dụng |
| Khổ 1 | Từ láy “lấm tấm”, “sột soạt”; nhân hóa (gió trêu); ngắt nhịp bất ngờ ở dòng cuối; màu sắc (vàng, biếc). | Bức tranh xuân tươi mới, được cảm nhận bằng thị giác, thính giác; khoảnh khắc mùa xuân hiện ra đột ngột, gây ấn tượng mạnh. |
| Khổ 2 | Hình ảnh “sóng cỏ” tràn tới chân trời; con người (cô thôn nữ) xuất hiện cùng tiếng hát; dấu gạch ngang mở lời suy ngẫm. | Không gian mở rộng, đầy sức sống; con người hòa vào thiên nhiên; gợi dự cảm về thời gian trôi. |
| Khổ 3 | Từ láy “vắt vẻo”, “hổn hển”, “thầm thĩ”; so sánh tiếng ca với lời nước mây. | Âm thanh tiếng hát có hình khối, có hơi thở, lan xa rồi lắng sâu; mùa xuân như “chín” trong tiếng hát của tâm hồn. |
Các vần bằng (sang, chơi, ngây…) gieo liền và cách cùng nhịp 4/3 quen thuộc tạo nên âm điệu nhẹ nhàng, ngân nga.
Câu 4 (trang 125): Tâm trạng, cảm xúc của “khách xa” trong khổ thứ tư
Trả lời: “Khách xa” có thể là người phương xa về, cũng có thể là chính nhà thơ tự coi mình là khách, xa cách với làng quê và cuộc đời. Gặp lúc mùa xuân đã độ đầy đặn nhất, người khách bâng khuâng, chợt nhớ làng da diết. Câu hỏi về người chị năm xưa gánh thóc trên bờ sông nắng gợi nỗi nhớ những kỉ niệm bình dị, sự lo lắng không biết người xưa giờ ra sao, và nỗi tiếc nuối cho thời gian đã qua. Ẩn sau đó là nỗi cô đơn, niềm khao khát được hòa nhập với cuộc sống của một hồn thơ đang phải sống xa cách.
Câu 5 (trang 125): Nhận xét về cách đặt nhan đề
Trả lời: Nhan đề kết hợp danh từ “mùa xuân” với tính từ “chín” – vốn dùng cho trái cây – là một cách nói mới lạ. “Chín” gợi độ tròn đầy, viên mãn, đẹp nhất của mùa xuân, cũng là lúc con người ở độ tuổi xuân thì đẹp nhất; đồng thời ngầm báo rằng “chín” rồi sẽ đến lúc tàn phai. Nhan đề vì thế vừa gợi cảm, vừa chứa đựng cảm thức về thời gian của cả bài thơ.
Câu 6 (trang 125): Vị trí, thời điểm quan sát ở khổ cuối so với ba khổ đầu
Theo em, vị trí, thời điểm quan sát, miêu tả “mùa xuân chín” của tác giả trong khổ thơ cuối so với ba khổ thơ đầu có sự thay đổi hay không? Điều đó có tác dụng gì trong việc thể hiện hình ảnh con người và thiên nhiên mùa xuân?
Trả lời: Có thay đổi.
- Ba khổ đầu: người quan sát như đang đứng giữa làng quê, trực tiếp ngắm nhìn, lắng nghe cảnh và người ở thời điểm hiện tại.
- Khổ cuối: người quan sát tự gọi là “khách xa”, nhìn bằng con mắt của kẻ đứng ngoài, và hướng vào kí ức, nhớ về làng, về người chị năm nào.
- Tác dụng: làm cho bức tranh xuân có chiều sâu thời gian (hiện tại – quá khứ), thiên nhiên và con người không chỉ hiện lên tươi đẹp mà còn gắn với kỉ niệm; đồng thời bộc lộ tâm trạng bâng khuâng, nuối tiếc, cô đơn của chủ thể trữ tình.
Câu 7 (trang 125): Một biểu hiện về sự phù hợp của hình thức với nội dung
Trả lời: Có thể chọn vần và nhịp: bài thơ bảy chữ dùng vần bằng ở cuối dòng, nhịp chủ yếu 4/3 đều đặn, ngân nga, hợp với không khí êm ả của làng quê và tiếng hát của cô gái. Riêng dòng cuối khổ 1 bị ngắt giữa bằng dấu chấm (“Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang.”), tạo khoảnh khắc ngỡ ngàng đúng như sự xuất hiện bất ngờ của mùa xuân. Các từ láy “vắt vẻo”, “hổn hển” ở khổ 3 cũng mô phỏng tiếng hát lúc vút cao, lúc ngắt quãng. Hình thức như vậy rất phù hợp để diễn tả cảnh xuân và dòng cảm xúc của nhà thơ.
Câu 8 (trang 125): Nhận xét cách tác giả cảm nhận thời gian trôi
Trả lời: Nhà thơ cảm nhận thời gian qua sự đổi thay của cả thiên nhiên và con người: từ “bóng xuân sang” ở khổ đầu đến lúc “mùa xuân chín” ở khổ cuối; từ những cô gái đang hát trên đồi đến dự cảm “có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”, rồi đến người chị năm xưa không biết nay còn gánh thóc. Thời gian không được đo bằng ngày tháng mà bằng độ “chín” của mùa và của tuổi xuân. Cách cảm nhận ấy nhạy cảm, tinh tế, thấm đượm nỗi luyến tiếc trước những vẻ đẹp chóng qua – nét riêng của hồn thơ Hàn Mặc Tử.

Kết luận
Soạn bài Mùa xuân chín theo sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, em cần nắm bức tranh xuân vừa quen vừa lạ ở ba khổ đầu, tâm trạng bâng khuâng nhớ làng của “khách xa”, ý nghĩa của chữ “chín” trong nhan đề và cách nhà thơ nhận ra thời gian trôi qua sự đổi thay của cảnh và người. Bài thơ cũng có trong bảng văn bản Bài 6–10 của trang ôn tập học kì II lớp 9 Chân trời sáng tạo, cạnh Nhớ rừng của Thế Lữ.
Xem thêm: