Nhớ rừng là bài thơ làm nên tên tuổi của Thế Lữ và là một trong những thi phẩm tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới. Bài thơ được học ở Bài 10 “Tiếng vọng những ngày qua”, sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo (tập 2). Bài viết dưới đây tổng hợp thông tin về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, thể thơ, bố cục, giá trị nội dung và nghệ thuật, kèm sơ đồ tư duy.

Nội dung văn bản Nhớ rừng
Bài thơ là lời của một con hổ bị nhốt trong vườn bách thú. Mở đầu, con hổ nằm trong cũi, ôm nỗi căm hờn, khinh bỉ đám người kéo đến xem và tủi nhục vì phải sống ngang bầy với gấu, báo:
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Rồi nó hồi tưởng những ngày tung hoành giữa đại ngàn: núi rừng hùng vĩ, tiếng gió gào, tiếng thác hét, và chính nó bước đi uy nghi như vị chúa tể của muôn loài. Đỉnh cao của nỗi nhớ là bốn cảnh đêm trăng, ngày mưa, bình minh, hoàng hôn rực rỡ, khép lại bằng một tiếng than:
– Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Trở về thực tại, con hổ càng ghét cảnh vườn bách thú được sửa sang, tỉa tót, giả làm rừng mà tầm thường, đơn điệu. Cuối bài, nó gửi lời về rừng xưa, nơi nó không bao giờ còn được thấy lại, chỉ có thể tìm về trong giấc mộng:
– Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
Bài thơ còn được bảo hộ bản quyền nên ở đây chỉ trích vài dòng; lời giải đọc hiểu đầy đủ có trong bài Soạn bài Nhớ rừng.
Thông tin tác giả Thế Lữ
Thế Lữ (1907 – 1989) tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, sinh tại Hà Nội, quê gốc ở làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (vùng đất nay thuộc Hà Nội). Thời đi học ông sống nhiều năm ở Hải Phòng, từng theo học Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương một thời gian ngắn rồi chuyển hẳn sang viết văn, làm báo.
Năm 1934, Thế Lữ tham gia Tự lực văn đoàn, cộng tác với các báo Phong hóa, Ngày nay. Ông là một trong những nhà thơ có công đầu đem lại chiến thắng cho Thơ mới: những bài thơ của ông xuất hiện đúng lúc cuộc tranh luận thơ mới, thơ cũ diễn ra sôi nổi, và thuyết phục người đọc bằng chính chất lượng nghệ thuật. Nhà phê bình Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam đã ví Thế Lữ như một ngôi sao bất ngờ xuất hiện, tỏa sáng khắp bầu trời thơ Việt.
Ngoài thơ, Thế Lữ còn viết truyện trinh thám, truyện kinh dị, và đặc biệt gắn bó với sân khấu: từ cuối những năm 1930, ông làm đạo diễn, diễn viên, viết kịch, góp phần quan trọng xây dựng nền kịch nói Việt Nam. Sau Cách mạng, ông tiếp tục hoạt động sân khấu phục vụ kháng chiến và xây dựng đất nước.
Tác phẩm chính: tập thơ Mấy vần thơ (1935); truyện Vàng và máu, Bên đường Thiên Lôi; nhiều vở kịch. Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật. Đọc thêm: Tiểu sử Thế Lữ và Phong cách sáng tác của Thế Lữ.
Thông tin tác phẩm Nhớ rừng
Những mục dưới đây trả lời các câu hỏi thường gặp khi tìm hiểu bài thơ.
Nhớ rừng được sáng tác trong hoàn cảnh nào?
Bài thơ ra đời năm 1934, khi Thơ mới đang ở buổi đầu đầy sôi động, sau đó được in trong tập Mấy vần thơ (1935). Đây là thời kì đất nước chìm trong ách thống trị của thực dân Pháp; tầng lớp thanh niên trí thức cảm thấy ngột ngạt, bất lực trước thực tại nhưng chưa tìm được lối ra. Mượn lời con hổ ở vườn bách thú, Thế Lữ đã nói hộ tâm trạng chung của cả một thế hệ.
Thể thơ và phương thức biểu đạt
- Thể thơ: tám chữ, vần liền, nhịp linh hoạt, không hạn định số câu.
- Phương thức biểu đạt: biểu cảm là chính, kết hợp miêu tả.
- Chủ thể trữ tình: con hổ trong vườn bách thú (xưng “ta”), ẩn sau là tâm sự của nhà thơ.
Bố cục bài thơ Nhớ rừng có mấy phần?
Bài thơ có 5 đoạn, có thể gộp thành 3 phần theo mạch cảm xúc:
- Đoạn 1: cảnh ngộ và tâm trạng của con hổ khi bị nhốt trong cũi sắt.
- Đoạn 2 và 3: nỗi nhớ cuộc sống tự do, oai hùng ở chốn đại ngàn, với bức tranh bốn cảnh rực rỡ.
- Đoạn 4: nỗi chán ghét cảnh vườn bách thú giả tạo, tầm thường.
- Đoạn 5: lời gửi về rừng xưa, niềm mong mỏi được tự do mà đành bất lực.
Đoạn 1 và 4 nói về hiện tại, đoạn 2 và 3 nói về quá khứ, tạo nên kết cấu đối lập rõ rệt.
Giá trị nội dung
Nhớ rừng thể hiện nỗi chán ghét sâu sắc thực tại tù túng, giả dối và một khát vọng tự do cháy bỏng. Qua tâm trạng con hổ, bài thơ khơi dậy lòng yêu nước thầm kín và nỗi nhớ tiếc quá khứ oanh liệt của dân tộc ở những người dân mất nước đương thời. Đồng thời, đó còn là tiếng nói khẳng định cái tôi cá nhân, khát vọng được sống là chính mình.
Giá trị nghệ thuật
- Cảm hứng lãng mạn dạt dào; hình tượng con hổ mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.
- Nghệ thuật đối lập giữa hai cảnh: đại ngàn hùng vĩ và vườn bách thú tầm thường.
- Hình ảnh thơ tráng lệ, giàu tính tạo hình; bức tranh tứ bình độc đáo.
- Thể thơ tám chữ tự do, nhạc điệu dồi dào, khi u uất khi hào hùng; nhiều câu hỏi tu từ, câu cảm thán.
Ý nghĩa nhan đề Nhớ rừng
Nhan đề nêu đúng tâm trạng chủ đạo của con hổ: nỗi nhớ khôn nguôi về núi rừng, nơi nó được sống tự do. Ở tầng nghĩa sâu hơn, “nhớ rừng” là nhớ một thời oanh liệt đã mất, là khát vọng thoát khỏi kiếp sống nô lệ.
Sơ đồ tư duy Nhớ rừng
Sơ đồ dưới đây tóm gọn sáu nội dung chính cần nhớ về bài thơ.

Lời kết
Nhớ rừng là bài thơ giàu ý nghĩa, góp phần mở ra chặng đường rực rỡ của Thơ mới bằng một tiếng nói đầy khát vọng. Khi học, em cần nắm chắc hoàn cảnh ra đời, kết cấu đối lập hai cảnh và ý nghĩa biểu tượng của hình tượng con hổ.
Xem thêm:
- Soạn bài Nhớ rừng (Thế Lữ) – Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo
- Tóm tắt bài thơ Nhớ rừng ngắn gọn
- Phân tích bài thơ Nhớ rừng – Dàn ý và bài văn mẫu
- Thơ và các tác phẩm tiêu biểu của Thế Lữ
- Mở bài Nhớ rừng hay nhất – 13 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao
- Kết bài Nhớ rừng hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, liên hệ, nâng cao