Mở bài Nhớ rừng là đoạn dẫn vào bài nghị luận phân tích, cảm nhận bài thơ tám chữ của Thế Lữ, văn bản học ở Bài 10 sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo (tập 2). Một mở bài tốt cần giới thiệu được Thế Lữ, người mở đường cho Thơ mới, và nêu đúng vấn đề: nỗi uất hận trước cảnh tù túng cùng khát vọng tự do gửi qua lời con hổ. Dưới đây là 13 mẫu đã viết hoàn chỉnh: trực tiếp, gián tiếp, theo đề thường gặp và nâng cao.

Cách viết mở bài Nhớ rừng
- Giới thiệu Thế Lữ bằng một nét nổi bật nhất: người mở đường, góp phần làm nên thắng lợi của Thơ mới.
- Nêu tên bài thơ, năm viết 1934, tập Mấy vần thơ (1935) và cấu tứ để con hổ trong vườn bách thú tự cất lời.
- Câu cuối nêu đúng vấn đề đề bài hỏi: cả bài thơ, một đoạn (đoạn đầu, bộ tranh tứ bình, cảnh vườn bách thú, khổ cuối) hay hình tượng con hổ.
- Trích thơ chỉ một hai dòng đúng nguyên văn, không chép cả khổ vào mở bài.
Mở bài trực tiếp Nhớ rừng
Mẫu 1 – trực tiếp, ngắn gọn
Thế Lữ là cây bút mở đường cho phong trào Thơ mới, và Nhớ rừng là bài thơ làm nên tên tuổi ông. Để một con hổ bị nhốt giữa vườn bách thú cất lời, Thế Lữ đã nói thay nỗi uất ức của những con người sống trong cảnh mất nước, đồng thời thổi bùng lên niềm khao khát được sống tự do.
Mẫu 2 – trực tiếp, đầy đủ tác giả, tác phẩm, vấn đề
Thế Lữ (1907–1989) có tên thật Nguyễn Thứ Lễ, quê ở Bắc Ninh, là thành viên Tự Lực văn đoàn, thuộc lớp gương mặt đầu tiên giúp Thơ mới đứng vững. Ông còn viết truyện, về sau gắn bó gần như trọn đời với nghệ thuật kịch nói. Nhớ rừng ra đời năm 1934, sau đó được đưa vào tập Mấy vần thơ (1935), và được xem là đỉnh cao trong đời thơ Thế Lữ. Qua tâm trạng con hổ sa cơ giữa vườn bách thú, bài thơ cho thấy sự khinh ghét đối với cuộc sống tù hãm, phẳng lặng và niềm mong mỏi được trở về với không gian lớn lao, phóng khoáng. Đằng sau lời con vật là tiếng lòng kín đáo của cả một lớp thanh niên trí thức mất nước trong thập niên 1930.
Mẫu 3 – trực tiếp từ nhan đề và lời chú của bài thơ
Chỉ hai chữ Nhớ rừng, Thế Lữ đã gói cả bài thơ vào một nỗi nhớ: nỗi nhớ của kẻ từng làm chủ núi rừng nay bị nhốt sau song sắt. Dưới nhan đề, nhà thơ còn chú rõ đây là lời con hổ ở vườn Bách thú, như muốn nhắc người đọc rằng mình chỉ đang kể chuyện một con vật. Thế nhưng càng đọc, ta càng nhận ra tiếng gầm của chúa sơn lâm thực chất là tiếng nói của con người: căm ghét cảnh sống chật hẹp, giả tạo và khát khao một khoảng trời rộng để được là chính mình. Bài văn dưới đây sẽ đi vào thế giới tâm trạng ấy của Nhớ rừng.
Mở bài gián tiếp Nhớ rừng
Mẫu 4 – từ phong trào Thơ mới
Đầu những năm ba mươi của thế kỉ XX, thi đàn Việt Nam chứng kiến một cuộc đổi thay lớn: lối thơ cũ với niêm luật chặt chẽ dần nhường chỗ cho những vần thơ tự do bộc lộ cái tôi cá nhân. Trong buổi đầu còn nhiều tranh cãi ấy, Thế Lữ không cần đến lời biện hộ nào; ông thuyết phục công chúng bằng chính những bài thơ mới thật hay, mà nổi bật hơn cả là Nhớ rừng. Lấy tâm trạng con hổ bị giam trong cũi làm điểm tựa, Nhớ rừng vừa là tiếng nói khẳng định cái tôi khao khát tự do, vừa chứng minh sức biểu đạt dồi dào của thể thơ tám chữ, góp phần đưa Thơ mới tới thắng lợi.
Mẫu 5 – từ nhận định của Hoài Thanh
Trong Thi nhân Việt Nam, khi nói về vai trò của Thế Lữ với Thơ mới, Hoài Thanh – Hoài Chân viết rằng “Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng, mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ”. Một trong những bước chân vững vàng nhất ấy chính là Nhớ rừng. Bài thơ không tuyên ngôn, không lí luận, chỉ để một con hổ trong cũi sắt cất lời than tiếc rừng xưa, vậy mà đủ sức làm người đọc đương thời chấn động. Tìm hiểu Nhớ rừng, ta sẽ thấy vì sao Thế Lữ được xem là người dựng nền cho Thơ mới và vì sao tâm sự của con hổ lại chạm tới trái tim bao người dân mất nước.
Mẫu 6 – từ hoàn cảnh sáng tác
Khoảng năm 1934, chàng thanh niên Nguyễn Thứ Lễ trên đường đi làm thường ngang Vườn Bách thảo ở Hà Nội, nơi có nuôi nhốt cả những con thú dữ. Từ cảnh tượng quen thuộc ấy, Thế Lữ viết nên Nhớ rừng, bài thơ sau đó in trong tập Mấy vần thơ (1935). Đó cũng là những năm đất nước còn chìm trong ách đô hộ, lớp trí thức trẻ ngột ngạt mà chưa tìm ra lối thoát. Vì thế, nỗi uất hận của con hổ trước thân phận tù đày và nỗi nhớ quay quắt về núi rừng xưa đã nhanh chóng trở thành tiếng nói chung của nhiều người Việt Nam yêu nước khi ấy.
Mẫu 7 – từ hình tượng con hổ trong tâm thức người Việt
Trong tâm thức dân gian, hổ là chúa sơn lâm, được người xưa kiêng gọi tên mà tôn là ông Ba Mươi, ông Cọp. Thế nhưng trong Nhớ rừng của Thế Lữ, vị chúa tể ấy lại nằm dài trong cũi sắt, trở thành món đồ cho người đời tò mò ngắm nghía. Sự đối lập gay gắt giữa uy linh xưa và thân phận nay chính là chìa khóa để Thế Lữ gửi vào bài thơ tâm sự của những con người mang chí lớn mà phải sống trong vòng nô lệ. Nhớ rừng vì thế là bài ca bi tráng về niềm kiêu hãnh và khát vọng tự do không thể bị dập tắt.
Mẫu 8 – so sánh với Khi con tu hú của Tố Hữu
Văn học Việt Nam có nhiều bài thơ viết về khát vọng tự do của những tâm hồn bị giam cầm. Năm 1939, trong nhà lao Thừa Phủ, Tố Hữu nghe tiếng chim tu hú mà muốn phá tung phòng giam để trở về với mùa hè rộn rã. Trước đó vài năm, Thế Lữ đã để một con hổ trong vườn bách thú hoài niệm về rừng thẳm trong bài Nhớ rừng. Nếu người chiến sĩ cộng sản đã tìm thấy con đường hành động, thì con hổ của Thế Lữ chỉ còn biết sống bằng hồi ức và giấc mơ. Chính nỗi bế tắc ấy lại khiến Nhớ rừng trở thành tấm gương phản chiếu chân thực tâm trạng của lớp thanh niên trí thức đương thời.
Mẫu 9 – từ khát vọng tự do muôn đời
Có những thứ chỉ khi mất đi người ta mới hiểu hết giá trị, và tự do là một trong số đó. Một chiếc lồng dù rộng đến đâu cũng không thay được bầu trời của cánh chim, một chiếc cũi dù kiên cố đến mấy cũng không giam nổi tâm hồn của chúa sơn lâm. Thế Lữ đã viết về điều giản dị mà thiêng liêng ấy trong Nhớ rừng, bài thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Qua tiếng lòng của con hổ, nhà thơ bày tỏ thái độ khinh ghét lối sống nhạt nhẽo, giả dối và gửi gắm ước muốn được sống đúng với bản chất của chính mình.
Mở bài Nhớ rừng theo đề thường gặp
Mẫu 10 – cho đề phân tích đoạn thơ đầu
Nhớ rừng của Thế Lữ mở ra bằng một tư thế rất lạ của chúa sơn lâm: không gầm thét, không vùng vẫy, chỉ nằm dài và gặm nhấm nỗi căm giận của mình. Hai câu thơ “Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt, / Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua” đã đặt người đọc trước một cảnh ngộ bi đát: kẻ từng làm chủ rừng xanh nay thành tù nhân bất lực. Đoạn thơ thứ nhất khắc họa sâu sắc nỗi nhục bị biến thành trò mua vui, thái độ khinh miệt kẻ giam cầm và nỗi chán chường khi phải sống chung cùng những loài thú an phận. Phân tích đoạn thơ này, ta hiểu được điểm xuất phát của toàn bộ nỗi nhớ rừng da diết trong bài.
Mẫu 11 – cho đề phân tích bộ tranh tứ bình
Người xưa thường nói trong thơ có họa, và đoạn thơ thứ ba của Nhớ rừng là minh chứng đẹp cho điều đó. Bằng ngôn từ, Thế Lữ đã vẽ nên bốn bức tranh đại ngàn ở bốn thời khắc: đêm trăng vàng, ngày mưa, buổi bình minh và lúc hoàng hôn, nơi nào cũng có bóng dáng con hổ uy nghi làm chủ. Chỉ cần đọc hai câu “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối / Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?” ta đã thấy một chúa sơn lâm vừa dữ dội vừa lãng mạn như một thi sĩ. Nhưng mỗi bức tranh càng huy hoàng thì nỗi tiếc nuối của kẻ đang ở trong cũi càng thêm nhức nhối, và đó chính là vấn đề cần làm sáng tỏ khi phân tích bộ tranh tứ bình trong Nhớ rừng.
Mẫu 12 – cho đề phân tích cảnh vườn bách thú
Không chỉ nhớ rừng, con hổ trong bài thơ của Thế Lữ còn ghét cay ghét đắng nơi nó đang bị giam. Ở đoạn thơ thứ tư của Nhớ rừng, khung cảnh vườn bách thú hiện ra qua cái nhìn đầy khinh bỉ: một dòng thơ “Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng” liệt kê toàn những thứ được sắp đặt, cắt gọt, không còn chút hoang dại nào. Đối lập với núi rừng hùng vĩ trong hồi ức, cảnh nhân tạo ấy là biểu tượng cho xã hội thực dân nửa phong kiến tù túng, giả dối mà lớp thanh niên trí thức khi ấy muốn quay lưng. Tìm hiểu đoạn thơ, ta sẽ thấy rõ thái độ quay lưng với thực tại của Thế Lữ.
Mở bài Nhớ rừng nâng cao
Mẫu 13 – học sinh giỏi, từ quy luật mượn vật nói người
Từ ngụ ngôn của La Phông-ten đến truyện dân gian Việt Nam, văn chương vẫn thường mượn chuyện loài vật để nói chuyện con người, bởi có những điều khó nói thẳng mà qua một hình tượng lại nói được trọn vẹn hơn. Thế Lữ đã vận dụng quy luật ấy một cách tài tình trong Nhớ rừng. Con hổ của ông không phải nhân vật ngụ ngôn để răn dạy, mà là một cái tôi lãng mạn đầy kiêu hãnh, đau đớn khi bị tước đoạt tự do. Lời than “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?” vang lên giữa bài thơ như tiếng thở dài của cả một thế hệ, vừa tiếc nuối quá khứ hào hùng, vừa bất lực trước hiện tại. Với những câu thơ tám chữ dồn dập, giàu nhạc điệu và hình ảnh tráng lệ, Nhớ rừng đã trở thành một trong những đỉnh cao của Thơ mới. Bài viết này sẽ làm rõ bi kịch và khát vọng ấy của con hổ mà Thế Lữ đã dựng nên.
Nên chọn mẫu mở bài Nhớ rừng nào?
Mỗi mẫu mở bài Nhớ rừng ở trên đều giới thiệu Thế Lữ, bài thơ và vấn đề nghị luận, nhưng đi theo một lối vào riêng. Đề phân tích cả bài nên chọn mẫu trực tiếp đầy đủ hoặc mẫu gián tiếp từ Thơ mới, từ nhận định của Hoài Thanh; đề hỏi một đoạn thì dùng mẫu theo dạng đề tương ứng. Bài kiểm tra ít thời gian thì mẫu ngắn gọn là đủ. Hãy diễn đạt lại bằng giọng văn riêng để mở bài khớp với thân bài và kết bài của em.
Xem thêm: