Kết bài Nhớ rừng là đoạn khép lại bài nghị luận phân tích, cảm nhận bài thơ của Thế Lữ, văn bản học ở Bài 10 sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo (tập 2). Một kết bài hay cần đánh giá được giá trị của bài thơ: nỗi uất hận trước thực tại tù túng, ước mơ tự do mãnh liệt, bút pháp lãng mạn cùng thể thơ tám chữ giàu nhạc điệu, rồi để lại suy nghĩ riêng của người viết. Bài viết gồm 13 mẫu kết bài đã viết hoàn chỉnh: ngắn gọn, tổng kết, liên hệ, mở rộng, theo từng đoạn thơ và nâng cao.

Cách viết kết bài Nhớ rừng
- Gọi lại tên bài thơ Nhớ rừng và Thế Lữ, tóm vấn đề đã phân tích trong một câu.
- Đánh giá cả nội dung (nỗi uất hận, nỗi nhớ rừng, khát vọng tự do, lòng yêu nước kín đáo) lẫn nghệ thuật (thơ tám chữ, cảm hứng lãng mạn, phép đối lập, hình ảnh tráng lệ).
- Đề chỉ hỏi một đoạn thì khép đúng đoạn ấy trước, sau đó mới mở ra ý nghĩa của cả bài.
- Phần liên hệ nên cụ thể: lòng yêu tự do, ý thức sống có hoài bão của người trẻ hôm nay.
Kết bài Nhớ rừng ngắn gọn, tổng kết
Mẫu 1 – ngắn gọn
Nhớ rừng của Thế Lữ là tiếng gầm uất ức của một chúa sơn lâm sa cơ, cũng là tiếng lòng của những con người mất nước khao khát tự do. Với cảm hứng lãng mạn dạt dào và hình ảnh tráng lệ, bài thơ xứng đáng là một trong những thành tựu rực rỡ nhất của Thơ mới.
Mẫu 2 – tóm lược giá trị nội dung và nghệ thuật
Bằng việc đặt hai thế giới cạnh nhau, một bên là núi rừng hoang vu, hùng vĩ trong hồi ức, một bên là vườn bách thú nhỏ bé, sửa sang giả tạo, Nhớ rừng của Thế Lữ đã nói lên sự chối bỏ cuộc sống phẳng lặng, vô vị cùng nỗi khao khát được tự do cháy bỏng. Về nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ thể thơ tám chữ với vần liền nối tiếp, nhịp điệu khi dồn dập khi ngân dài, hệ thống hình ảnh giàu màu sắc, phép đối lập và những câu hỏi tu từ đầy day dứt. Cảm hứng lãng mạn đã thống nhất mọi yếu tố ấy, tạo nên một bài thơ vừa đẹp vừa có sức lay động mạnh mẽ.
Mẫu 3 – khẳng định vị trí bài thơ và tác giả
Ra đời năm 1934 và in trong tập Mấy vần thơ năm 1935, Nhớ rừng nhanh chóng trở thành bài thơ được nhắc đến nhiều nhất của Thế Lữ. Ít năm sau, Hoài Thanh và Hoài Chân chọn bài thơ vào tuyển tập Thi nhân Việt Nam, như một sự ghi nhận dành cho người mở đường của Thơ mới. Đến nay, Nhớ rừng vẫn có mặt trong sách Ngữ văn, vẫn được học sinh thuộc lòng và ngâm đọc. Thế Lữ còn để lại nhiều đóng góp cho văn xuôi và sân khấu, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000, nhưng với nhiều thế hệ bạn đọc, tên tuổi ông trước hết gắn liền với tiếng gầm của con hổ nhớ rừng.
Kết bài Nhớ rừng có liên hệ, mở rộng
Mẫu 4 – liên hệ bản thân
Đọc Nhớ rừng của Thế Lữ, em không chỉ thương con hổ bị nhốt trong cũi mà còn tự hỏi về chính mình. Ngày nay chúng em không phải sống trong cảnh nô lệ, nhưng vẫn có những chiếc cũi vô hình: thói quen an phận, nỗi sợ thất bại, sự dễ dãi chấp nhận những gì người khác sắp đặt sẵn. Con hổ dù bất lực vẫn không chịu để mình vô tư như bầy thú chuồng bên, vẫn giữ trong lòng giấc mộng về rừng thẳm. Em mong mình cũng biết nuôi dưỡng những ước mơ lớn và đủ dũng cảm bước ra khỏi vùng an toàn để sống một cuộc đời rộng mở hơn.
Mẫu 5 – liên hệ thời đại hôm nay
Gần một thế kỉ đã trôi qua kể từ ngày Thế Lữ viết Nhớ rừng, đất nước đã độc lập, tự do, nhưng bài thơ chưa bao giờ cũ. Bởi mong muốn được sống đúng với bản chất, không bị giam hãm, không bị biến thành món đồ cho kẻ khác mua vui là mong muốn muôn đời của con người. Đọc lại tiếng than của con hổ, ta càng biết quý nền độc lập mà cha ông đã đổi bằng xương máu, và hiểu rằng gìn giữ tự do cũng là gìn giữ phẩm giá của mỗi người. Đó là thông điệp lặng lẽ mà Nhớ rừng vẫn gửi tới người đọc hôm nay.
Mẫu 6 – mở rộng với Khi con tu hú của Tố Hữu
Đặt Nhớ rừng của Thế Lữ bên cạnh Khi con tu hú mà Tố Hữu viết trong nhà lao Thừa Phủ năm 1939, ta thấy hai cách cảm nhận khác nhau về cảnh tù đày. Người tù cách mạng nghe tiếng chim gọi hè mà sục sôi muốn phá ngục, bởi anh đã có lí tưởng và con đường đấu tranh. Còn con hổ của Thế Lữ chỉ biết tìm về quá khứ, nương náu trong giấc mộng, vì lớp trí thức đương thời chưa tìm thấy lối ra. Dù vậy, chính sự bế tắc chân thật ấy làm nên giá trị riêng của Nhớ rừng: bài thơ đã ghi lại không chút tô vẽ một tâm trạng thời đại, đồng thời khơi dậy lòng yêu nước thầm kín trong người đọc.
Mẫu 7 – trở lại hình ảnh đầu và cuối bài thơ
Mở đầu bằng một khối căm hờn nằm trong cũi sắt, khép lại bằng tiếng gọi tha thiết “Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!”, Nhớ rừng của Thế Lữ là hành trình của một tâm hồn đi từ uất hận đến khắc khoải. Cũi sắt vẫn còn đó, con hổ vẫn không thể thoát ra, nhưng tâm hồn nó đã kịp bay về với đại ngàn trong giấc mộng. Có lẽ đó là điều đáng quý nhất mà Thế Lữ muốn giữ lại: thân xác có thể bị giam cầm, nhưng niềm kiêu hãnh và khát vọng tự do thì không gì giam giữ nổi.
Mẫu 8 – khép lại bằng nhận định của Hoài Thanh
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh có lần ví Thế Lữ như một vị tướng chỉ huy đạo quân tiếng Việt, ra lệnh nào chữ nghĩa cũng phải tuân theo. Đọc lại Nhớ rừng, ta hiểu lời khen ấy không hề quá lời. Những câu thơ tám chữ khi thì dồn nén uất ức, khi thì cuồn cuộn như sóng, khi lại lắng xuống thành tiếng thở dài, tất cả đều phục tùng dòng cảm xúc dữ dội của con hổ. Nhờ tài điều khiển ngôn từ ấy, Thế Lữ đã biến một câu chuyện về loài vật thành bài thơ lớn của cả một thời đại.
Kết bài Nhớ rừng theo đề thường gặp
Mẫu 9 – cho đề phân tích đoạn thơ đầu
Chỉ với tám câu thơ mở đầu, Thế Lữ đã khắc họa trọn vẹn cảnh ngộ lẫn tâm trạng con hổ trong Nhớ rừng. Một câu “Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua” đủ cho thấy sự bất lực của kẻ từng tung hoành, còn những lời khinh miệt dành cho đám người ngạo mạn và bầy thú an phận lại cho thấy nó chưa hề đánh mất niềm kiêu hãnh. Uất hận mà không cam chịu, đó là nền tảng để nỗi nhớ rừng bùng lên mãnh liệt ở các đoạn sau, và cũng nói hộ nỗi lòng bao người dân mất nước khi ấy.
Mẫu 10 – cho đề phân tích bộ tranh tứ bình
Bộ tranh tứ bình trong đoạn thơ thứ ba là những dòng thơ đẹp nhất của Nhớ rừng. Trăng đêm, mưa ngày, nắng sớm, máu chiều, mỗi bức một sắc màu, nhưng bức nào cũng tôn lên vẻ uy nghi của chúa sơn lâm. Hình ảnh con hổ “Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan” cho thấy trí tưởng tượng bay bổng của Thế Lữ, biến con thú dữ thành một tâm hồn nghệ sĩ. Thế nhưng từ “đâu” lặp lại như những tiếng hỏi không lời đáp đã đẩy tất cả về quá khứ, để rồi tiếng than ở cuối đoạn vang lên đầy xót xa. Càng đẹp, bộ tranh càng làm nỗi đau mất tự do thêm thấm thía.
Mẫu 11 – cho đề phân tích cảnh vườn bách thú
Qua cái nhìn của con hổ, Thế Lữ đã biến vườn bách thú thành bức tranh biếm họa về một thế giới nhỏ nhen, nhân tạo. Những thứ “Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng” càng ngăn nắp bao nhiêu lại càng giả dối bấy nhiêu khi đặt cạnh rừng già âm u, hùng vĩ. Thái độ khinh ghét của con hổ trước cảnh ấy cũng là thái độ của lớp thanh niên trí thức đương thời trước xã hội ngột ngạt, chỉ biết học đòi, bắt chước. Đoạn thơ vì vậy góp phần quan trọng làm nên ý nghĩa phủ nhận thực tại của Nhớ rừng.
Mẫu 12 – cho đề phân tích khổ thơ cuối
Khổ thơ cuối của Nhớ rừng là tiếng gọi thống thiết nhất mà Thế Lữ để con hổ cất lên. Biết mình không bao giờ trở lại được nơi thênh thang xưa, nó chỉ còn cách gửi hồn theo câu thơ “Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn” để được phảng phất gần rừng thẳm. Giấc mộng ấy cho thấy sự bất lực, nhưng cũng là lời khẳng định rằng chúa sơn lâm không bao giờ chịu khuất phục, không bao giờ quên cội nguồn tự do của mình. Đoạn kết khép lại bài thơ trong dư âm buồn mà vẫn kiêu hãnh, khiến người đọc khó quên.
Kết bài Nhớ rừng nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 13 – khép lại bằng suy ngẫm về chất bi tráng
Văn chương lãng mạn thường không chỉ ra con đường hành động, nhưng nó có sức mạnh riêng: đánh thức trong con người ý thức về những điều cao đẹp đã mất. Nhớ rừng của Thế Lữ là một trường hợp như thế. Con hổ không phá được cũi, không tìm ra lối thoát, song nó chưa một lần thỏa hiệp với cảnh sống thấp hèn, chưa một lần thôi tự hào mình là chúa tể. Bi kịch bất lực và vẻ đẹp kiêu hãnh hòa vào nhau, tạo nên chất bi tráng làm bài thơ khác hẳn những lời than mềm yếu. Có lẽ vì vậy mà người đọc thời ấy, nhất là những ai mang nặng nỗi đau mất nước, đã tìm thấy ở Nhớ rừng tiếng nói của chính mình. Hôm nay đọc lại, ta vẫn nghe tiếng gọi rừng thẳm như lời nhắc đừng bao giờ chấp nhận một cuộc đời nhỏ bé, giả tạo.
Nên chọn mẫu kết bài Nhớ rừng nào?
Các mẫu kết bài Nhớ rừng ở trên đều khép lại bằng một đánh giá về khát vọng tự do và tài thơ của Thế Lữ, nhưng mỗi mẫu đi theo một hướng riêng. Đề phân tích cả bài nên dùng mẫu tổng kết, mẫu khẳng định vị trí hoặc mẫu nâng cao; đề hỏi một đoạn thì chọn mẫu theo đoạn tương ứng rồi thêm một câu nhìn lại toàn bài. Khi đi thi, hãy viết lại bằng lời của mình để kết bài tự nhiên, khớp với mở bài đã chọn.
Xem thêm: