Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử là bài thơ được học ở hai bộ sách: Bài 10 “Tiếng vọng những ngày qua” sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo và Bài 2 “Vẻ đẹp của thơ ca” sách Ngữ văn 10 Kết nối tri thức. Bài viết tổng hợp toàn văn bài thơ, thông tin tác giả, xuất xứ, thể thơ, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật, ý nghĩa nhan đề và sơ đồ tư duy để em nắm bài nhanh.
Nội dung văn bản Mùa xuân chín
Hàn Mặc Tử mất năm 1940 nên thơ ông đã thuộc phạm vi công cộng. Dưới đây là toàn văn bài thơ theo bản phổ biến (đối chiếu thivien.net và Wikisource; một số bản in có khác biệt nhỏ về dấu câu).

Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây,
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây…
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:
– “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”
Thông tin tác giả Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử (1912–1940), tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22/9/1912 tại Đồng Hới, Quảng Bình, trong một gia đình theo đạo Công giáo. Ông từng dùng các bút danh Phong Trần, Lệ Thanh, Minh Duệ Thị trước khi chọn tên Hàn Mặc Tử. Thuở nhỏ ông theo cha đi học ở nhiều nơi, từng học trường Pellerin ở Huế, sau đó sống cùng mẹ ở Quy Nhơn. Năm 21 tuổi, ông vào Sài Gòn lập nghiệp, sau đó làm phóng viên phụ trách trang thơ cho báo Công luận. Xem thêm bài tiểu sử nhà thơ Hàn Mặc Tử.
Từ khoảng năm 1935, ông có dấu hiệu mắc bệnh phong; bệnh nặng dần khiến ông phải về Quy Nhơn chữa trị. Ngày 20/9/1940, ông vào trại phong Quy Hòa và mất tại đây ngày 11/11/1940, khi mới 28 tuổi. Cuộc đời ngắn ngủi, nhiều đau đớn nhưng sức sáng tạo của ông lại mãnh liệt khác thường.
Hàn Mặc Tử là một trong những gương mặt độc đáo nhất của phong trào Thơ mới (1932–1945), người khởi xướng “Trường thơ Loạn”. Các tác phẩm chính gồm: Gái quê (1936), Đau thương (còn gọi là Thơ Điên, 1938), Xuân như ý, Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên, kịch thơ Duyên kì ngộ, Quần tiên hội (dở dang) và tập thơ văn xuôi Chơi giữa mùa trăng. Danh mục chi tiết có ở bài tuyển tập thơ Hàn Mặc Tử.
Thơ ông có hai mảng đối lập: một mảng trong trẻo, tươi tắn, đậm hồn quê (như Mùa xuân chín, Đây thôn Vĩ Dạ) và một mảng dữ dội, kì dị với những hình ảnh trăng, hồn, máu (các bài trong phần “Máu cuồng và hồn điên”). Chế Lan Viên từng ví ông “như một ngôi sao chổi xẹt qua bầu trời Việt Nam”. Tìm hiểu thêm ở bài phong cách sáng tác của Hàn Mặc Tử.
Thông tin tác phẩm Mùa xuân chín
Các mục dưới đây trả lời những câu hỏi thường gặp về bài thơ khi soạn và ôn tập.
Xuất xứ: Mùa xuân chín in trong tập thơ nào?
Bài thơ thuộc phần “Hương thơm” của tập Đau thương (Thơ Điên), tập thơ gồm ba phần: Hương thơm, Mật đắng, Máu cuồng và hồn điên. Sách Chân trời sáng tạo 9 in bài thơ theo Thi nhân Việt Nam 1932–1941 (Hoài Thanh – Hoài Chân, NXB Văn học, 1988); sách Kết nối tri thức 10 in theo tuyển Thơ Hàn Mặc Tử (Sở Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình, 1988). Bài thơ từng có trong SGK Văn học 8 giai đoạn 1990–2002.
Hoàn cảnh sáng tác
Chưa có tài liệu ghi chính xác ngày tháng ra đời của bài thơ. Theo Trần Thanh Mại, cuối năm 1937 Hàn Mặc Tử đã gom góp xong tập thơ làm trên giường bệnh mà ông gọi là Thơ Điên; như vậy Mùa xuân chín được viết trước thời điểm đó, khi nhà thơ đã mắc bệnh, sống xa cách cuộc đời. Hoàn cảnh ấy giúp ta hiểu vì sao cảnh xuân trong thơ tươi đẹp mà vẫn thấp thoáng nỗi nuối tiếc, bâng khuâng.
Thể thơ và phương thức biểu đạt
- Thể thơ: thất ngôn (mỗi câu 7 chữ), gồm 4 khổ, mỗi khổ 4 câu; nhịp chủ yếu 4/3.
- Vần: mỗi khổ một vần riêng: “tan – vàng – sang”, “trời – đồi – chơi”, “mây – ngây”, “làng – chang”.
- Phương thức biểu đạt: biểu cảm kết hợp miêu tả.
- Nhân vật trữ tình: “khách xa” – người con xa quê trở về (hoặc hồi tưởng) giữa mùa xuân.
Bố cục: Mùa xuân chín có mấy phần?
Bài thơ có thể chia làm 3 phần theo mạch cảm xúc:
- Phần 1 (khổ 1): bức tranh thiên nhiên làng quê lúc xuân sang.
- Phần 2 (khổ 2 và 3): cảnh xuân – tình xuân qua tiếng hát của các cô thôn nữ.
- Phần 3 (khổ 4): tâm trạng bâng khuâng, nhớ làng của “khách xa”.
Giá trị nội dung
- Vẽ nên bức tranh mùa xuân làng quê trong trẻo, tươi tắn, tràn đầy sức sống với nắng ửng, mái nhà tranh, giàn thiên lý, sóng cỏ xanh.
- Thể hiện niềm vui, sự rạo rực của con người trước mùa xuân và tuổi xuân, đồng thời gửi gắm nỗi tiếc nuối khi cái đẹp không thể níu giữ (“có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”).
- Bộc lộ tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, khát khao giao cảm với đời và nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ.
Giá trị nghệ thuật
- Hình ảnh thơ vừa cổ điển vừa dân dã; nhiều kết hợp từ lạ và gợi cảm: “nắng ửng”, “khói mơ tan”, “sóng cỏ”, “đám xuân xanh”, “tiếng ca vắt vẻo”.
- Biện pháp tu từ đặc sắc: đảo ngữ “Sột soạt gió trêu tà áo biếc”, nhân hóa gió “trêu”, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (tiếng ca “vắt vẻo”, “hổn hển”).
- Nhịp thơ linh hoạt, có chỗ ngắt bằng dấu chấm giữa dòng (“Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.”) tạo khoảng lặng ngỡ ngàng; lời thoại và câu hỏi tu từ cuối bài gợi dư âm.
- Mạch cảm xúc đi từ ngoại cảnh đến tâm cảnh, từ rạo rực sang bâng khuâng.
Ý nghĩa nhan đề Mùa xuân chín
Nhan đề ghép danh từ “mùa xuân” với tính từ “chín” – vốn dùng cho trái cây. Mùa xuân “chín” là mùa xuân ở độ viên mãn, căng đầy nhất; nhưng “chín” cũng là lúc sắp qua, sắp rụng. Nhan đề vì thế vừa gợi vẻ đẹp rực rỡ của cảnh vật và tuổi xuân con người, vừa ẩn chứa nỗi lo âu, nuối tiếc trước bước đi của thời gian – đúng như hình ảnh các cô thôn nữ sắp “theo chồng” và “chị ấy” nay vẫn còn gánh thóc.
Sơ đồ tư duy Mùa xuân chín
Sơ đồ dưới đây giúp em ôn nhanh các ý chính về tác giả và tác phẩm.

Lời kết
Mùa xuân chín là một trong những bài thơ trong trẻo nhất của Hàn Mặc Tử, nơi cảnh quê bình dị trở thành nơi gửi gắm khát khao sống và nỗi nhớ thương da diết. Khi học, em cần nắm chắc mạch cảm xúc từ cảnh xuân đến tình xuân, những kết hợp từ độc đáo và ý nghĩa hai chữ “xuân chín”.
Bài ôn tập học kì II Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo giúp em ôn nhanh kiến thức đọc, viết và tiếng Việt của cả học kì.
Xem thêm: