Giả sử có một cỗ máy đưa bạn vượt qua hàng trăm nghìn năm, bạn mong gặp một thế giới thế nào, và nếu không quay về được thì sao? Bài 7 Thế giới viễn tưởng đặt câu hỏi ấy qua văn bản đọc 2, đoạn trích từ tiểu thuyết Cỗ máy Thời Gian của Hơ-bớt Gioóc-giơ Oen (H. G. Wells). Cùng soạn bài Du hành tới tương lai theo SGK Ngữ văn 7 Kết nối tri thức (bản 2026), tập hai, trang 35–41.
Nhan đề do nhóm biên soạn đặt; văn bản ghép từ nhiều phần của cuốn tiểu thuyết, theo bản dịch của Nguyễn Thành Nhân.
Trước khi đọc – soạn bài Du hành tới tương lai (trang 35)

Câu 1 (trang 35): Hình dung về đời sống loài người trong những thế kỉ tới
Nêu một vài hình dung, tưởng tượng của em về đời sống của loài người trong những thế kỉ hoặc thiên niên kỉ tới. Vì sao em có thể hình dung, tưởng tượng như vậy?
Trả lời: Em hình dung vài thế kỉ nữa, con người có thể đi lại bằng phương tiện tự lái, chữa bệnh bằng những thiết bị siêu nhỏ, một số người sống trên Mặt Trăng hay sao Hỏa; nhưng Trái Đất cũng có thể nóng hơn, nhiều loài sinh vật biến mất. Em tưởng tượng như vậy vì những điều đó đã manh nha: xe tự lái đang được thử nghiệm, trí tuệ nhân tạo có mặt khắp nơi, còn tin về thiên tai, biến đổi khí hậu xuất hiện mỗi ngày.
Câu 2 (trang 35): Tác phẩm, bộ phim về con người sống trong không gian, thời gian khác thường
Em đã đọc tác phẩm văn học hoặc xem bộ phim nào kể về tình huống con người sống trong không gian hoặc thời gian khác thường? Chia sẻ cảm nghĩ của em về những gì đã đọc, xem.
Trả lời: Có thể chọn Hai vạn dặm dưới biển của Giuyn Véc-nơ (sống trong tàu ngầm dưới đáy đại dương) hay truyện tranh Đô-rê-mon với cỗ máy thời gian trong ngăn kéo bàn học của Nô-bi-ta. Hãy nói ngắn tình huống khác thường, điều em thấy thú vị và điều tác phẩm khiến em suy nghĩ, chẳng hạn thời gian quý giá vì không thể quay lại.
Đọc nhanh về Hơ-bớt Gioóc-giơ Oen và Cỗ máy Thời Gian
Hơ-bớt Gioóc-giơ Oen (1866 – 1946) là nhà văn người Anh, một trong những cây bút đặt nền móng cho truyện khoa học viễn tưởng hiện đại. Tác phẩm tiêu biểu: Cỗ máy Thời Gian (1895), Người vô hình (1897), Chiến tranh giữa các thế giới (1898).
Cỗ máy Thời Gian kể về một nhà phát minh, được gọi là Nhà du hành Thời Gian, chế tạo cỗ máy đi xuyên thời gian và tới năm 802 701, gặp hai giống loài hậu duệ của con người: người Ê-loi sống trên mặt đất và người Mo-lốc sống dưới lòng đất. Người xưng “tôi” trong đoạn trích là Nhà du hành đang kể lại chuyến đi cho bạn bè.
Đọc văn bản – trả lời sáu ô gợi ý (trang 36–40)
Câu 1 (trang 36): Hình dung – Cảm giác ban đầu của nhân vật khi ngồi vào Cỗ máy Thời Gian
Trả lời: Vừa khởi động, căn phòng tối sầm và nhòe đi; cô giúp việc bước qua phòng mà như lao vút đi. Nhân vật nói rằng cảm giác khi vượt thời gian rất khó tả và khó chịu, giống như bị đẩy về phía trước trên một chiếc tàu lượn tốc độ cao mà không thể làm gì, trong đầu luôn có linh cảm sắp xảy ra một cú va đâm khủng khiếp.
Câu 2 (trang 36): Theo dõi – Những trải nghiệm của nhân vật với Cỗ máy Thời Gian trong chuyến du hành
Trả lời:
- Nhìn ra ngoài: cảnh vật mờ như sương khói; cây cối mọc lên rồi đổ xuống, nhà cửa hiện ra rồi tan đi như giấc mơ; kim đồng hồ chạy mỗi lúc một nhanh.
- Cảm nhận bản thân: ông thấy mình như mỏng đi, lướt qua kẽ hở của vật chất như một luồng hơi.
- Nỗi lo: khi dừng lại, các nguyên tử của ông có thể va vào vật cản, gây vụ nổ hất ông vào hư vô. Sự xa lạ, rung lắc và cảm giác sắp rơi khiến ông căng thẳng tột độ.
- Kết thúc: nóng ruột, ông dừng máy đột ngột; cỗ máy lật nhào, ông bị văng ra, tai ù như sấm, mưa đá trút quanh người.
Câu 3 (trang 38): Hình dung – Những điều nhân vật cảm nhận khi “hạ cánh” xuống miền đất của tương lai
Trả lời: Ông ướt sũng giữa một khu vườn, mưa đá quật rụng hoa đỗ quyên; khi mưa ngớt, những tòa nhà đồ sộ, tượng nhân sư hiện ra dưới trời xanh. Ông thấy mình trơ trọi, sợ như chú chim nhỏ biết có chim ưng sắp lao xuống, vội lật cỗ máy lại để sẵn sàng bỏ đi. Rồi lòng can đảm trở lại, ông tò mò quan sát những người khoác áo thụng đang nhìn mình.
Câu 4 (trang 38): Chú ý – Khoảng cách giữa hình dung ban đầu với “thực tế” Nhà du hành đối mặt
Trả lời:
| Hình dung ban đầu | Thực tế gặp phải |
|---|---|
| Con người năm 802 701 hẳn vượt xa người thời ông về tri thức, nghệ thuật, mọi mặt. | Người ông gặp nhỏ bé, mảnh mai, đẹp nhưng yếu ớt; hỏi ông có phải từ Mặt Trời theo cơn dông xuống không, trí tuệ chỉ như đứa trẻ năm tuổi. |
| Chế tạo cỗ máy để chứng kiến sự tiến bộ của loài người. | Thất vọng ê chề, có lúc thấy công sức làm cỗ máy hóa ra vô ích. |
Câu 5 (trang 39): Liên hệ – Cảm giác khi không thể trở lại môi trường sống quen thuộc
Trả lời: Khi phát hiện cỗ máy biến mất, Nhà du hành nghẹt thở, cổ họng thắt lại, lao xuống dốc đến ngã trầy mặt mà không dừng. Ông tự trấn an rằng chắc ai đó chỉ dời nó vào bụi cây, nhưng trong lòng biết mình đang dối mình. Ai trong chúng ta cũng có thể hiểu cảm giác ấy: lạc bố mẹ giữa chợ đông, đi học xa nhà lần đầu, hay chuyển đến một thành phố lạ. Đó là nỗi hoảng sợ, bơ vơ và mong được trở về nơi có người thân.
Câu 6 (trang 40): Theo dõi – Khám phá bước đầu về một giống người khác với người Ê-loi
Trả lời: Trong ánh sáng nhập nhoạng lúc trăng lặn, Nhà du hành thấy những bóng trắng giống vượn chạy rất nhanh lên dốc, có lúc ba con khiêng một vật đen gần khu phế tích rồi biến mất sau bụi cây. Trước đó, ông đã thấy những dấu chân hẹp kì lạ như của con lười quanh bệ tượng nhân sư. Những dấu hiệu ấy cho thấy có một giống loài khác, sống lẩn khuất, hoạt động trong bóng tối, rất khác người Ê-loi.
Sau khi đọc – trả lời câu hỏi (trang 41)
Câu 1 (trang 41): Tóm tắt sự việc chính; du hành thời gian khác du hành không gian ra sao?
Tóm tắt những sự việc chính được kể trong đoạn trích. Theo tưởng tượng của em, du hành trong thời gian có gì khác với du hành trong không gian?
Trả lời:
Sự việc chính:
- Nhà du hành khởi động cỗ máy, trải qua những cảm giác lạ lùng, khó chịu khi vượt thời gian.
- Lo sợ, ông dừng máy đột ngột; cỗ máy lật nhào giữa trận mưa đá ở năm 802 701.
- Ông hoảng sợ trước thế giới mới, rồi lấy lại bình tĩnh, gặp những người Ê-loi nhỏ bé, xinh đẹp nhưng trí tuệ non nớt, và thất vọng.
- Phát hiện cỗ máy biến mất, ông hoảng loạn, rồi lần theo dấu vết, đoán ra nó bị giấu trong bệ tượng nhân sư bằng đồng.
- Lúc rạng đông, ông thấy những sinh vật trắng giống vượn, ngờ rằng chúng là thủ phạm lấy cắp cỗ máy; ông còn suy luận vì sao Mặt Trời thời ấy nóng hơn.
Du hành thời gian khác du hành không gian:
- Du hành không gian là đổi nơi chốn trong cùng một thời điểm, vẫn gặp người cùng thời, dễ tính đường về.
- Du hành thời gian có thể đứng yên một chỗ (nhân vật vẫn ở sườn đồi chỗ căn nhà của mình) mà thấy thế giới đổi thay qua hàng nghìn năm, gặp những con người hoàn toàn khác.
- Rủi ro lớn hơn nhiều: cơ thể chịu cảm giác bất thường, có thể va chạm khi dừng, nhất là nguy cơ không về được thời đại của mình.
Câu 2 (trang 41): Phản ứng của Nhà du hành trước những gì quan sát, đối mặt
Nêu một số chi tiết tiêu biểu nói về các phản ứng của Nhà du hành Thời Gian trước những gì ông quan sát, đối mặt ở thế giới tương lai.
Trả lời:
- Sợ hãi rồi can đảm trở lại: thấy mình trơ trọi như chim nhỏ trước chim ưng, cuống cuồng lật cỗ máy; sau đó nhìn thế giới mới với nhiều hiếu kì hơn.
- Ngạc nhiên, tự tin rồi thất vọng: giật mình trước vẻ đẹp yếu ớt của người Ê-loi, bỏ tay khỏi cỗ máy; nghe câu hỏi ngây thơ của họ thì thấy công chế tạo như uổng phí.
- Hoảng loạn: mất cỗ máy, ông chạy như điên, ngã xây xát vẫn chạy tiếp.
- Bình tĩnh suy luận: lần theo vết rãnh, dấu chân, gõ thử bệ tượng, đoán ra nơi giấu cỗ máy.
- Hoài nghi: thấy những sinh vật trắng lúc rạng đông, ông ngờ cả đôi mắt mình.
Những phản ứng ấy rất con người: vừa sợ vừa tò mò, có lúc nóng vội, có lúc tỉnh táo như một nhà khoa học.
Câu 3 (trang 41): Hai loài sinh vật khác nhau thế nào? Sự thiếu thiện cảm với “họ” nói lên điều gì?
Tìm trong văn bản những bằng chứng cho thấy hai loài sinh vật mà Nhà du hành Thời Gian tiếp xúc có nhiều điểm khác nhau về nơi ở và đặc điểm trí tuệ, hoạt động. Sự thiếu thiện cảm của ông đối với “họ” nói lên điều gì?
Trả lời:
| Người Ê-loi | Loài sinh vật trong bóng tối | |
|---|---|---|
| Nơi ở | Trên mặt đất, quanh những tòa nhà lớn, khu vườn, bãi cỏ. | Nương vào bóng tối (theo chú thích, sống dưới lòng đất); xuất hiện gần khu phế tích, bệ tượng. |
| Hình dáng | Mảnh khảnh, chưa cao tới mét rưỡi, mặc áo thụng, gương mặt hồng hào, đẹp nhưng yếu. | Màu trắng, trông giống vượn, để lại dấu chân hẹp như con lười. |
| Trí tuệ, hoạt động | Ngây thơ như trẻ năm tuổi; vô tâm, vô hại; hoạt động ban ngày, kéo đến xem người lạ. | Thoăn thoắt, vội vàng lúc rạng đông, khiêng vật nặng; có lẽ đã lấy cắp, giấu cỗ máy vào bệ tượng, tức là biết làm việc, có tổ chức. |
Sự thiếu thiện cảm (với người Ê-loi là coi thường, thất vọng; với loài trong bóng tối là nghi ngờ, sợ hãi) cho thấy:
- Nhà du hành mang theo kì vọng của con người thời mình: tin rằng loài người sẽ mãi tiến bộ. Tương lai ông thấy lại đi ngược niềm tin ấy.
- Qua đó tác giả cảnh báo: một cuộc sống quá an nhàn có thể khiến con người thoái hóa; còn sự phân chia thành những nhóm sống tách biệt có thể biến loài người thành những giống loài xa lạ, đe dọa lẫn nhau.
Câu 4 (trang 41): Lí giải nỗi lo lắng khi Cỗ máy Thời Gian biến mất
Trả lời: Nỗi lo ấy hoàn toàn dễ hiểu:
- Cỗ máy là phương tiện duy nhất để trở về; mất nó, ông mắc kẹt vĩnh viễn ở năm 802 701.
- Thế giới ấy xa lạ: người Ê-loi không đủ trí tuệ để giúp, kẻ lấy cắp lại bí ẩn, đáng sợ.
- Ông sẽ mất mọi thứ thân thuộc: bạn bè, ngôi nhà, thời đại của mình.
Câu 5 (trang 41): Cỗ máy Thời Gian có thể thành hiện thực không?
Ngày nay, nhiều thành tựu khoa học tưởng chỉ có thể xuất hiện trong truyện khoa học viễn tưởng đã trở thành hiện thực. Theo em, ý tưởng về Cỗ máy Thời Gian có thể trở thành hiện thực trong tương lai không? Vì sao?
Trả lời: Đây là câu hỏi mở, bạn có thể chọn một quan điểm và giải thích. Gợi ý:
Em nghĩ một cỗ máy muốn đến thời nào thì đến như trong truyện rất khó thành hiện thực, ít nhất trong tương lai gần. Khoa học cho thấy thời gian không trôi đều ở mọi nơi: đồng hồ trên vệ tinh định vị phải hiệu chỉnh vì chạy lệch với đồng hồ dưới mặt đất; về lí thuyết, người bay cực nhanh sẽ già chậm hơn người ở lại. Nhưng làm được điều đó với con người cần năng lượng, công nghệ vượt xa hiện nay, còn quay về quá khứ thì vướng nhiều nghịch lí. Dù vậy, tàu ngầm hay tên lửa lên Mặt Trăng cũng từng chỉ có trong truyện, nên em vẫn mong khoa học một ngày tiến gần hơn tới giấc mơ của Oen.
Câu 6 (trang 41): Tưởng tượng phần tiếp theo; hiểu thêm gì về thể loại?
Nêu những gì có thể xảy ra sau các sự việc được kể trong đoạn trích theo tưởng tượng của riêng em. Việc thử vào vai người viết truyện khoa học viễn tưởng như vậy giúp em có thêm hiểu biết gì về thể loại văn học này?
Trả lời:
Tưởng tượng phần tiếp theo (gợi ý): Nhà du hành làm một cây đuốc, lần theo các sinh vật trắng xuống một giếng sâu dưới lòng đất, phát hiện chúng sợ ánh sáng. Dùng lửa mở đường, ông quay lại bệ tượng đúng lúc cửa bệ hé mở; cỗ máy nằm bên trong, xung quanh là cả bầy sinh vật đang rình. Ông lao vào yên, khởi động máy khi những bàn tay lạnh ngắt vừa chạm tới vai, và thế giới năm 802 701 tan biến.
Hiểu thêm về thể loại:
- Truyện kết hợp giả thuyết khoa học với tưởng tượng; chi tiết lạ vẫn phải có lí (như cách nhân vật lí giải Mặt Trời nóng hơn).
- Không gian, thời gian khác thường; nhân vật khám phá, gặp tình huống bất ngờ, hồi hộp.
- Sau cuộc phiêu lưu là suy ngẫm, cảnh báo về con người và khoa học.
Viết kết nối với đọc (trang 41)
Câu 1 (trang 41): Phác họa viễn cảnh cuộc sống loài người sau khoảng 100 năm
Dựa trên hiểu biết, suy luận của bản thân, viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) phác họa viễn cảnh cuộc sống loài người trên Trái Đất sau khoảng 100 năm.
Trả lời: Đoạn tham khảo (7 câu):
Năm 2126, buổi sáng của một cậu bé có lẽ bắt đầu bằng tiếng chim thật chứ không phải tiếng chuông báo thức, vì thành phố đã được phủ kín cây xanh trên mọi tòa nhà. Cậu đến trường trên một chiếc xe điện không người lái, chạy êm trên con đường lát tấm pin hấp thụ ánh nắng. Lớp học không còn bảng đen; mỗi bạn đeo một cặp kính mỏng, có thể bước vào bên trong tế bào thực vật hay đứng giữa trận Bạch Đằng năm xưa. Bữa trưa là rau trồng ngay trên sân thượng trường, còn nước uống được lọc từ hơi ẩm trong không khí. Ông bà của cậu đã ngoài một trăm tuổi mà vẫn khỏe, nhờ những thiết bị nhỏ theo dõi sức khỏe từng ngày. Tuy vậy, trong giờ địa lí, cậu vẫn phải học về những vùng ven biển đã chìm dưới nước từ thế kỉ trước. Bài học ấy nhắc mọi người rằng tương lai đẹp hay không phụ thuộc vào những gì con người hôm nay lựa chọn.
Tài liệu liên quan cùng Bài 7
Khi ôn văn bản này, bạn nên đặt nó cạnh Cuộc chạm trán trên đại dương để so sánh hai kiểu tưởng tượng: một bên khám phá chiều sâu đại dương, một bên vượt qua chiều thời gian.
Xem thêm: